Trong
số những nhà sáng lập các tôn giáo, đức Phật (nếu ta có thể gọi Ngài
là nhà sáng lập một tôn giáo theo nghĩa thông thường của danh từ) là
vị Thầy độc nhất đã không tự xưng là gì khác hơn là một con người,
hoàn toàn chỉ là một con người. Những vị Giáo chủ khác thì hoặc là
Thượng đế, hay Thượng đế nhập thể trong những hình thức khác nhau, hay
được Thượng đế mặc khải. Ðức Phật không những chỉ là một con người,
Ngài lại còn là một con người tự nhận không được một thiên khải nào từ
bất cứ một vị thần linh hay một quyền năng nào khác. Ngài tuyên bố tất
cả những gì Ngài thực hiện được, đạt đến được và hoàn thành được, đều
hoàn toàn do nỗ lực và trí tuệ con người. Chỉ có con người mới có thể
thành Phật. Mọi người đều mang trong mình khả năng thành Phật nếu họ
muốn và nỗ lực. Ta có thể gọi đức Phật là một Con Người tuyệt luân.
Ngài quá toàn thiện trong "nhân tính" của Ngài đến nỗi về sau, trong
tôn giáo của đại chúng, Ngài được xem như một "Siêu nhân".
Theo Phật giáo, hoàn cảnh con người thật
tuyệt. Con người tự mình làm chủ mình, không có một thực thể hay quyền
năng nào cao hơn có thể định đoạt số phận nó. Ðức Phật dạy:
"Tự ta là chỗ nương tựa cho ta, còn ai
khác có thể làm nơi nương tựa?"
[1]
Ngài khuyên các môn đệ hãy "nương tựa nơi
chính mình," không bao giờ nên tìm nơi nương tựa hay sự giúp đở của
bất cứ người nào khác[2].
Ngài giảng dạy, khuyến khích và cổ võ mỗi người tự mở mang và tìm sự
giải thoát cho chính mình, vì con người vốn có năng lực tự giải thoát
khỏi mọi ràng buộc bằng trí tuệ và nỗ lực của chính mình. Ðức Phật
dạy: "Các đức Như Lai[3]
giảng dạy Chánh đạo, nhưng chính các ngươi phải làm việc của mình."[4]
Nếu người ta gọi đức Phật là một "đấng Cứu thế " thì cũng chỉ vì Ngài
đã tìm ra và chỉ con đường đi đến giải thoát, Niết-bàn. Nhưng tự chúng
ta, ta phải bước trên đường ấy.
Chính vì nguyên tắc trách nhiệm cá nhân
này mà đức Phật cho các môn đệ hoàn toàn tự do. Trong kinh
Mahàparinibhàna (Ðại Bát Niết-bàn), đức Phật dạy Ngài không bao giờ
nghĩ mình điều khiển Tăng già (Sangha)[5]
và Ngài cũng không muốn đoàn thể này tùy thuộc vào Ngài. Ngài dạy rằng
trong giáo lý của Ngài, không có lý thuyết huyền bí, không có gì giấu
giếm trong "nắm tay của đức Ðạo Sư" (àcariyamutthi), hay nói cách
khác, Ngài không giấu gì trong tay áo cả .[6]
Trong lịch sử các tôn giáo, người ta
không thấy một tôn giáo nào khác có tự do tư tưởng như Phật giáo. Sự
tự do này thật cần thiết, vì theo đức Phật, sự giải thoát của con
người tùy thuộc vào chính sự trực nhận chân lý, chứ không phải vào ân
huệ của một thần linh hay một quyền năng bên ngoài nào ban thưởng cho
sự quy phục.
Một lần, đức Phật viếng thăm dân Kàlàmas
ở Kesaputta một thành phố nhỏ trong vương quốc Kosala. Khi nghe đức
Phật đến, những người Kàlàmas đến thăm và bạch Ngài:
"Bạch đức Thế Tôn, có nhiều ẩn sĩ và Bà
la môn đến viếng Kesaputta. Họ giảng giải và làm sáng tỏ những lý
thuyết của mình, nhưng khinh miệt, lên án, bài xích lý thuyết của
những người khác. Rồi có những ẩn sĩ và Bà la môn khác cũng chỉ giảng
giải và làm sáng tỏ những lý thuyết của riêng họ, khinh miệt, lên án
và phỉ báng những lý thuyết của những người khác. Nhưng bạch Thế Tôn,
về phần chúng con, chúng con luôn luôn hoài nghi và hoang mang, không
biết ai trong số những ẩn sĩ và Bà la môn khả kính ấy đã nói sự thật,
ai nói quấy."
Khi ấy đức Phật đã ban cho họ lời khuyên
độc đáo như sau:
"Hỏi dân Kàlamas, các ngươi hoài nghi,
hoang mang là phải, vì vấn đề ấy rất khả nghi. Hỏi dân Kàlamas, đừng
để bị lôi cuốn bởi những lời thuật lại, hay bởi truyền thuyết, hay bởi
những lời đồn. Ðừng để bị dắt dẫn bởi thẩm quyền kinh điển, hay bởi lý
luận suy diễn, hay bởi những bề ngoài đáng tin, hoặc bởi lạc thú tư
duy về các quan điểm, hay bởi những gì có vẻ hữu lý, hay bởi ý nghĩ:
"Ðây là thầy ta." Nhưng hỏi Kàlamas, khi nào các ngươi tự mình biết
một việc gì là bất thiện, sai, xấu, thì hãy dứt bỏ... và khi các ngươi
tự mình biết một điều gì là thiện, tốt, thì hãy chấp nhận, đi theo."[7]
Ðức Phật còn đi xa hơn nữa. Ngài bảo các
Tỳ kheo rằng một môn đệ cần phải xét đoán ngay cả đức Như Lai (đức
Phật), để có thể hoàn toàn tin chắc giá trị của vị thầy mà mình đang
theo.[8]
Theo giáo lý của đức Phật, nghi
(vicikichà) là một trong năm chướng ngại (ngũ cái, nivarana)[9],
năm trở ngại cho sự hiểu biết chân lý và cho sự tiến bộ tâm linh (hay
cho bất cứ sự tiến bộ nào). Tuy nhiên, nghi không phải là một "tội
lỗi", bởi vì trong Phật giáo không có những "tín điều". Quả thế, trong
đạo Phật không có "tội lỗi" hiểu theo nghĩa "tội lỗi" trong vài tôn
giáo khác. Cội rễ của mọi sự xấu xa là vô minh (Avijjà) và tà kiến
(micchà ditthi). Một điều không thể chối cãi là bao lâu còn có hoài
nghi, hoang mang, do dự, thì không thể nào có tiến bộ. Cũng không thể
chối cãi được rằng hoài nghi không tránh được khi mà con người không
hiểu rõ, thấy rõ. Nhưng để tiến xa hơn, thì tuyệt đối cần phải xa lìa
hoài nghi. Muốn khỏi hoài nghi, ta cần phải thấy rõ.
Vấn đề không phải là ta không nên hoài
nghi hay nên tin tưởng. Chỉ nói rằng "tôi tin", không có nghĩa là bạn
đã hiểu và thấy rõ. Khi học sinh giải một bài toán đến giai đoạn không
biết làm sao để tiếp tục, thì sẽ rơi vào hoài nghi bối rối. Nếu còn
hoài nghi, y không thể tiến lên, nên cần phải dứt nghi. Có nhiều cách
giải quyết; nhưng không phải chỉ nói "tôi tin" hay "tôi không nghi" mà
giải được bài toán. Tự buộc mình phải tin tưởng và chấp nhận một điều
mình không hiểu gì hết, là một thái độ chính trị, không phải thái độ
tâm linh hay trí thức.
Ðức Phật luôn luôn bài xích hoài nghi. Cả
đến khi Ngài sắp mất, vài phút trước khi lìa trần, Ngài còn nhiều lần
bảo các môn đệ phải hỏi kỹ nếu còn có hoài nghi nào về Giáo lý của
Ngài, để sau đừng hối tiếc vì không thể giải hết những thắc mắc. Nhưng
các môn đệ đều im lặng.
Khi ấy đức Phật dạy một lời rất cảm động:
"Nếu vì kính nể Như Lai mà các con không dám hỏi điều gì, thì mỗi
người hãy nói cho bạn biết" (có nghĩa là mỗi người hãy nhờ bạn hỏi
giùm cho mình điều thắc mắc).[10]
Không những sự tự do tư tưởng, mà còn sự
khoan hồng của đức Phật, đã làm cho người nghiên cứu tôn giáo sử phải
ngạc nhiên. Một thuở nọ ở Nàlandà, một người giàu có và lỗi lạc tên
Ưu-bà-li (Upàli), một đồ đệ tại gia hữu danh của phái Ni-Kiền-tử
(Nigantha - Nàtaputta) thuộc Kỳ na giáo của Jaina Mahàvìra, được chính
Mahàvìra cử đến gặp đức Phật để tranh luận và bài bác vài điểm trong
thuyết Nghiệp báo, bởi vì quan điểm của đức Phật về vấn đề này khác
với quan điểm của Mahàvìra[11].
Trái ngược với mong đợi, Upàli sau khi tranh luận phải chấp nhận rằng
những quan điểm của đức Phật là đúng và quan điểm của thầy mình sai.
Bởi thế ông ta cầu xin đức Phật nhận mình làm một đệ tử tại gia
(Upàsaka, Ưu-bà-tắc). Nhưng đức Phật bảo ông ta hãy suy nghĩ lại, và
đừng vội vã, vì "sự xét đoán cẩn thận rất tốt cho những người lỗi lạc
như ông." Khi Upàli lập lại những lời cầu xin, đức Phật khuyên ông hãy
tiếp tục kính trọng và ủng hộ những vị thầy cũ của ông ta như trước[12].
Vào thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch, vị hoàng
đế Phật tử A Dục vương của xứ Ấn Ðộ, theo gương đức tính khoan hồng và
thông cảm cao quý ấy, đã kính trọng và nâng đở tất cả mọi tôn giáo
khác trong đế quốc lớn rộng của ông ta. Trong một lời tuyên bố của
Hoàng đế khắc trên trụ đá đến nay ta còn đọc được:
"Người ta không nên chỉ kính trọng tôn
giáo của riêng mình và bài bác những tôn giáo của kẻ khác, mà phải
kính trọng tôn giáo kẻ khác vì lý do này hay lý do khác. Như thế ta có
thể làm cho tôn giáo mình phát triển và giúp đở các tôn giáo khác nữa.
Nếu không, tức là ta đã đào huyệt chôn chính tôn giáo của mình, và còn
làm hại các tôn giáo khác. Kẻ nào chỉ kính trọng tín ngưỏng của mình
và bài xích những tín ngưỏng khác, thực ra họ đã làm thế vì sùng kính
tín ngưỏng của riêng mình, nghĩ rằng: "Tôi sẽ làm rạng danh tôn giáo
của tôi". Nhưng trái lại, khi làm thế họ đã làm tổn thương tôn giáo
mình một cách trầm trọng hơn nữa. Bởi thế sự hòa hảo là tốt đẹp: mọi
người nên lắng nghe, và có thiện chí lắng nghe những lý thuyết mà
người khác đề xướng."[13]
Ở đây, ta cũng nên thêm rằng tinh thần
hiểu biết cảm thông ấy ngày nay cần được áp dụng, không những chỉ
trong vấn đề lý thuyết tôn giáo, mà còn ở trong những địa hạt khác
nữa.
Tinh thần khoan dung thông cảm ấy từ khởi
thủy đã là một trong những lý tưởng được yêu chuộng nhất trong văn hóa
và văn minh Phật giáo. Chính vì thế mà suốt trong lịch sử 2500 năm
truyền giáo, Phật giáo đã Á châu, và hiện nay có trên 500 triệu tín
đồ. Bạo động, dưới bất cứ hình thức nào, lý lẽ nào, cũng đều tuyệt đối
trái ngược với giáo lý đức Phật.
Người ta thường hỏi: Phật giáo là một tôn
giáo hay một triết học? Gọi nó là gì, điều ấy không quan trọng, Phật
giáo vẫn là Phật giáo, dù bạn dán lên đấy nhãn hiệu gì đi nữa. Nhãn
hiệu là điều phụ thuộc. Ngay cả nhãn hiệu Phật giáo mà ta đặt cho Giáo
lý đức Phật cũng không mấy quan hệ. Cái tên mà ta đặt cho Phật giáo là
điều không thiết yếu.
Có gì trong một danh từ?
Hoa hồng hương ấy cho dù tên chi.
Cũng thế, chân lý không cần nhãn hiệu, nó
không là Phật giáo, Gia tô giáo, Ấn giáo, hay Hồi giáo. Chân lý không
là độc quyền của ai. Những nhãn hiệu tông phái là một trở ngại cho sự
hiểu biết chân lý một cách tự tại, và chúng làm phát sinh những thành
kiến tai hại trong tư tưởng con người.
Ðiều này đúng không những trong các vấn
đề trí thức và tâm linh, mà còn cả trong những giao tiếp giữa người
với người. Chẳng hạn, khi ta gặp một người, ta không nhìn họ như một
con người, mà ta đặt cho họ một nhãn hiệu như Anh, Pháp, Ðức, Mỹ hay
Do Thái, và xét người ấy với tất cả những thành kiến đi kèm với nhãn
hiệu ấy trong trí ta. Nhưng người ấy có thể hoàn toàn vượt khỏi những
thuộc tính mà ta gán cho họ.
Con người vốn ưa thích những nhãn hiệu
phân biệt, đến nỗi họ đặt cả những nhãn hiệu ấy lên trên những đức
tính và cảm xúc mà mọi người đều có. Họ nói đến những "loại" bác ái
khác nhau, chẳng hạn: Bác ái Phật giáo và Bác ái Gia tô giáo, và khinh
bỉ những nhãn hiệu bác ái khác. Nhưng lòng bác ái không thể là bè
phái, nó không là Chúa, Phật, Ấn hay Hồi. Tình thương của một bà mẹ
đối với con không là Phật hay Chúa: đấy là tình mẹ. Những đức tính và
cảm xúc của con người như tình yêu, bác ái, từ bi, khoan hồng, kiên
nhẫn, tình bạn, ham muốn, thù hận, biếng trễ, ngu si, tự phụ v.v..
không cần đến những nhãn hiệu bè phái, chúng không thuộc về một tôn
giáo nào cả.
Ðối với người đi tìm chân lý, một tư
tưởng do từ đâu đến là điều không quan hệ. Nguồn gốc và sự phát triển
của một tư tưởng là vấn đề của học giả. Quả vậy, để hiểu sự thật,
chúng ta không cần biết đến ngay cả lời dạy đến từ đức Phật hay từ một
người nào khác. Ðiều thiết yếu là thấy rõ vấn đề, hiểu nó. Có một câu
chuyện quan trọng trong Trung bộ kinh (Majjhima-nikàya) (kinh số 140)
làm sáng tỏ điều này.
Một hôm, đức Phật ở lại đêm trong xưởng
một người thợ làm đồ gốm. Cũng trong xưởng ấy có một ẩn sĩ trẻ đến đấy
trước Ngài[14].
Họ không biết nhau. Ðức Phật quan sát người ẩn sĩ và tự nhủ:
"Thanh niên này có những cử chỉ đáng mến. Ta nên hỏi xem về người
này." Bởi thế đức Phật hỏi người ấy: "Hỏi khất sĩ[15],
nhân danh ai mà bạn đã từ bỏ gia đình? Ai là thầy của bạn? Bạn thích
lý thuyết của ai?"
Chàng thanh niên đáp: " bạn ơi, có ẩn sĩ
Cồ đàm dòng họ Thích ca, đã từ bỏ gia đình để trở thành một ẩn sĩ.
Người ta đồn rằng đấy là một vị Arahant (A-la-hán), một bậc toàn giác.
Chính nhân danh con người thánh thiện ấy mà tôi đã trở thành một ẩn
sĩ. Người là Thầy tôi, và tôi thích lý thuyết của người."
- Vậy chớ con người Thánh thiện ấy, vị
A-la-hán, đấng toàn giác ấy bây giờ ở đâu?
- Ở các xứ về phương Bắc, hỏi bạn, có một
đô thị gọi là Sàvatthi (Xá vệ). Chính đấy là nơi đấng Thế Tôn, vị
A-la-hán, đấng Toàn giác đang ở.
- Bạn đã có khi nào thấy vị ấy chưa, đấng
Thế Tôn ấy? Nếu gặp Người, bạn có sẽ nhận ra Người hay không?
- Tôi chưa bao giờ thấy đức Thế Tôn ấy.
Nếu gặp Người, tôi cũng sẽ không làm sao nhận ra được.
Ðức Phật nhận ra rằng chính nhân danh
Ngài mà người thanh niên xa lạ này đã từ bỏ gia đình và trở thành một
khất sĩ. Nhưng vẫn không để lộ tông tích. Ngài bảo:
- Hỏi khất sĩ, tôi sẽ dạy cho bạn lý
thuyết. Hãy chú ý lắng nghe. Tôi sẽ nói.
- Ðược, bạn nói đi. Người trẻ tuổi chấp
thuận.
Khi ấy đức Phật giảng dạy cho thanh niên
một bài thuyết pháp đặc sắc nhất về chân lý (mà ta sẽ trình bày những
điểm tinh yếu về sau)[16].
Chỉ sau khi nghe Ngài thuyết pháp xong,
ẩn sĩ tên Pukkusàti mới nhận ra rằng người nói với mình chính là đức
Phật. Anh cúi thấp mình dưới chân đức Ðạo sư, và xin lỗi Ngài vì đã
không biết mà gọi Ngài là "bạn"[17].
Rồi người ấy cầu xin đức Phật truyền giới pháp và nhận mình vào đoàn
thể Tăng già.
Ðức Phật hỏi anh ta đã có y, bát sẵn sàng
chưa (một bhikkhu - tỳ kheo - phải có 3 y và 1 bình bát để khất thực).
Khi Pukkusàti trả lời không có, đức Phật dạy rằng những đức Như Lai
(Tathàgatas) sẽ không thọ ký cho một người nào nếu họ không có sẵn y,
bát. Bởi thế Pukkusàti ra đi tìm y và bát, nhưng rủi thay dọc đường
anh ta bị bò húc chết[18].
Về sau khi tin buồn ấy đến tai đức Phật,
Ngài bảo môn đệ rằng Pukkusàti là một người thánh thiện đã thấy được
chân lý và đã đạt đến giai đoạn gần cuối trên đường thực hiện
Niết-bàn, và được tái sinh vào một cõi, ở đấy người ấy sẽ trở thành
một vị A-la-hán[19]
và cuối cùng chết để không bao giờ phải trở lại thế gian này.[20]
Qua câu chuyện trên ta thấy rõ là khi
Pukkusàti lắng nghe đức Phật và lãnh hội được lời dạy của Ngài, anh ta
không biết người đang nói với mình là ai, hay đấy là giáo lý của ai.
Anh ta tìm thấy chân lý. Nếu vị thuốc hay thì bệnh sẽ lành. Không cần
thiết phải biết ai làm nên vị thuốc ấy, hay nó từ đâu lại.
Hầu hết mọi tôn giáo đều được thiết lập
trên đức tin - đúng hơn, lòng tin mù quáng - nhưng đạo Phật nhấn mạnh
trên sự "thấy biết", hiểu rõ, lãnh hội, chứ không phải trên lòng tin.
Trong các bản kinh văn Phật giáo có danh từ Saddhà (Skt. Sraddhà)
thường được dịch là đức tin, lòng tin tưởng. Nhưng saddhà không phải
là "đức tin" theo nghĩa thông thường, mà đúng hơn đấy là "tín", phát
sinh do sự quyết đoán. Trong đạo Phật bình dân và cả trong cách dùng
thông dụng nơi các bản kinh, ta phải công nhận danh từ "saddhà" có một
phần ý nghĩa "đức tin" khi nó được giảng là sự nương theo Phật, Pháp
(Dhamma) và Tăng (Sangha, đoàn thể Tăng già).
Theo Vô Trước, triết gia vĩ đại về Phật
học vào thế kỷ thứ tư, "tín" có ba phương diện:
1) Sự tin tưởng chắc chắn và toàn vẹn về
một điều gì.
2) Niềm vui thanh thoát về những đức tính.
3) Sự ước vọng hay mong muốn hoàn thành một mục đích theo đuổi.[21]
Dù hiểu thế nào, đức tin theo nghĩa phần
lớn các tôn giáo có rất ít liên quan với đạo Phật.[22]
Vấn đề đức tin phát sinh khi không có sự
thấy rõ - thấy với mọi ý nghĩa. Khi ta thấy rõ, vấn đề đức tin
biến mất. Nếu tôi bảo bạn rằng trong nắm tay tôi có một hòn ngọc, thì
vấn đề tin tưởng đặt ra vì chính bạn không thấy được viên ngọc. Nhưng
nếu tôi mở nắm tay và chỉ cho bạn viên ngọc, thì chính bạn đã thấy,
vấn đề tin tưởng không còn đặt ra nữa. Bởi thế trong các bản kinh xưa
có câu: "Nhận biết như người ta thấy một viên ngọc trong lòng tay."
Một môn đệ của Phật tên Musìla bảo một
thầy tu khác: "Này bạn Savittha, không cần đức tin[23],
lòng tin tưởng sùng bái, không cần ưa thích hay thiên vị, không cần
nghe lời đồn đãi hay truyền thuyết, không cần xét đoán những lý lẽ bề
ngoài, không cần lạc thú trong sự tư duy về các quan niệm, tôi biết và
thấy rằng sự chấm dứt của sinh tử là Niết-bàn."[24]
Và đức Phật đã dạy: "Hỏi các Thầy Tỳ
kheo, ta nói rằng sự diệt trừ những điều xấu xa, bất tịnh là cốt để
cho một người đã thấy và biết, chứ không phải để cho một người không
thấy và không biết."[25]
Vấn đề luôn luôn là biết và thấy chứ
không phải là tin. Giáo lý của đức Phật được gọi là ehi-passika, mời
bạn "đến để thấy", chứ không phải đến để tin.
Trong các bản kinh văn, những từ ngữ luôn
luôn được dùng để chỉ những người đã chứng ngộ chân lý là "Pháp nhãn
(con mắt pháp: dhamma-cakkhu), không bụi bặm và không cáu bẩn, đã phát
sinh: "Người nào đã thấy chân lý, đã nhập vào chân lý, đã vượt qua
hoài nghi, người ấy không còn do dự. Với trí tuệ chân chính, người ấy
thấy đúng như thật (yathà bhùtam)"[26].
Nói đến sự giác ngộ của chính Ngài, đức Phật dạy: "Con mắt đã phát
sinh, trí đã phát sinh, kiến giải đã phát sinh, ánh sáng đã phát sinh"[27].
Luôn luôn đấy là sự thấy biết qua trí hay tuệ (nàna-dassana), chứ
không phải là tin tưởng qua đức tin.
Ðiểm này càng ngày càng được tán dương
vào thời mà giáo lý chính thống Bà la môn bắt buộc phải tin tưởng và
đương nhiên chấp nhận truyền thống và thẩm quyền của họ như chân lý
độc nhất. Một ngày kia, một nhóm Bà la môn học thức lỗi lạc đến viếng
đức Phật và tranh luận rất lâu với Ngài. Một người trong bọn, một
thiếu niên Bà la môn mười sáu tuổi tên Kàpathika, được cả bọn xem là
thông minh xuất chúng, đã hỏi đức Phật[28]:
- Thưa đức Cồ đàm, có những bài thánh
kinh xưa cũ của những người Bà la môn được truyền tụng liên tục qua
những bản kinh khẩu truyền. Về những bài kinh ấy, những người Bà la
môn đã có kết luận tuyệt đối này: "Chỉ có đây mới là Chân lý, và mọi
điều khác đều là sai lầm." Vậy đức Cồ đàm sẽ nói gì về điều ấy?
Ðức Phật hỏi:
- Trong những người Bà la môn, có một
người Bà la môn nào tuyên bố tự mình biết và thấy rằng "chỉ có đây mới
là chân lý, mọi điều khác đều là sai lầm chăng?"
Người thiếu niên thật thà đáp:
- Không.
- Thế thì, có một vị thầy nào, hay một vị
thầy của những vị thầy nào trong những người Bà la môn lùi về thời đại
thứ bảy, hay cả đến bất cứ một người nào trong số những tác giả đầu
tiên của những kinh điển ấy, đã tuyên bố rằng ông ta biết và thấy:
"Chỉ có đây mới là chân lý, mọi sự khác đều sai lầm?"
- Không.
- Vậy thì họ giống như một chuỗi những
người mù nối đuôi nhau, người đầu tiên không thấy, người giữa cũng
không thấy và người cuối cùng cũng không thấy. Như thế thì dường như
trạng huống của những người Bà la môn giống như trạng huống của một
chuỗi người mù.
Rồi đức Phật cho nhóm người Bà la môn một
lời khuyên vô cùng quan trọng: "Một người trí giữ gìn chân lý không
nên đi đến kết luận: "Chỉ có đây mới là sự thật, và mọi điều khác đều
sai lầm."
Khi thiếu niên Bà la môn yêu cầu Ngài
giải thích ý nghĩa thế nào là "giữ gìn chân lý", đức Phật dạy:
"Một người tin tưởng một điều gì. Nếu y
nói: "Ðây là lòng tin của tôi" như thế là y đã giữ gìn chừng ấy sự
thật. Nhưng y không thể đi đến kết luận tuyệt đối: "Chỉ có đây mới là
chân lý, và mọi sự khác đều sai lầm." Nói cách khác một người có thể
tin điều gì tùy ý, và có thể nói "tôi tin điều này". Như thế là y tôn
trọng sự thật. Nhưng y không nên vì lòng tin ấy mà nói rằng chỉ có cái
gì y tin mới là chân lý, và mọi sự khác đều sai."
Ðức Phật dạy: "Chấp trước một điều gì
(một quan điểm nào) và khinh miệt những điều khác (quan điểm khác) xem
là thua kém - bậc trí giả gọi đấy là một xiềng xích."[29]
Một hôm đức Phật giảng dạy[30]
cho môn đệ lý thuyết về nhân quả, và họ thưa rằng đã thấy và hiểu rõ
điều ấy. Ðức Phật liền dạy:
"Hỏi các Tỳ kheo, ngay cả quan niệm ấy,
minh bạch và rõ ràng như thế, nhưng nếu các ông bám chặt vào đó, nếu
các ông quý chuộng nó, nếu các ông cất giữ nó, nếu các ông ràng buộc
vào với nó, thì vậy là các ông đã không hiểu rằng giáo lý chỉ như một
chiếc bè, cốt dùng để qua sông chứ không phải để mà ôm giữ lấy."[31]
Ở một chỗ khác, đức Phật giảng ẩn dụ danh
tiếng này, trong ấy giáo lý được ví như một chiếc bè dùng để qua sông,
chứ không phải để nắm giữ và mang trên lưng.
"Hỏi các Tỳ kheo, một người đi du lịch,
đến một khoảng sông rộng. Bờ bên này rất nguy hiểm, nhưng bờ bên kia
thì an ổn và không có nguy nan. Không có một con thuyền nào để qua bên
kia bờ sông, cũng không có một chiếc cầu nào để đi qua. Người ấy tự
nhủ: "Con sông thật rộng, bờ bên này đầy hiểm nguy, nhưng bờ bên kia
thì an ổn không nguy hiểm. Không có con thuyền nào để sang bên kia,
cũng không có một chiếc cầu nào để qua. Bởi thế, thật sẽ rất tốt nếu
ta lượm cỏ, gỗ, cành cây và lá để làm một chiếc bè, và nhờ chiếc bè đó
mà qua bờ kia cho an ổn, dùng cả tay chân ta để chống chèo." Rồi hỏi
các Tỳ kheo, người ấy lượm cỏ, gỗ, cây, lá mà làm một chiếc bè, và nhờ
chiếc bè ấy đưa sang bờ bên kia một cách an ổn, chống chèo bằng chân
tay mình. Sau khi đã vượt qua sông đến bờ kia, y nghĩ: "Chiếc bè này
thật đã giúp ích cho ta rất nhiều. Nhờ nó ta đã vượt qua an ổn đến bờ
sông bên này, chống chèo bằng tay chân ta. Thật đáng nên mang chiếc bè
này trên đầu hay trên lưng bất kỳ ta đi đâu."
- Các ông nghĩ thế nào hỏi các thầy Tỳ
kheo? Nếu người ấy làm như thế thì hành động của y có phải là một hành
động thích đáng đối với chiếc bè hay không?
- Bạch Thế Tôn, không.
"Vậy thì y nên làm thế nào với chiếc bè?
Sau khi đã vượt qua sông và đến bờ bên kia, giả sử người ấy suy nghĩ:
"Chiếc bè này thật đã có công dụng rất lớn với ta. Nhờ nó ta đã sang
đến bờ sông bên này một cách an ổn, chống chèo bằng tay chân ta. Ta
nên để chiếc bè này trên nước, rồi tiếp tục đi bất cứ đâu." Ấy là hành
động một cách thích đáng đối với chiếc bè. Cũng thế, hỏi các Tỳ kheo,
ta đã truyền dạy một giáo lý tương tự như một chiếc bè, nó cốt dùng để
vượt qua, chứ không phải để mang theo, ôm giữ. Hỏi các Tỳ kheo, đã
hiểu rằng giáo lý chỉ như một chiếc bè, thì pháp (dhamma) các ông còn
phải lìa bỏ, huống nữa phi pháp (adhamma)[32]
thì lại càng nên xả bỏ biết chừng nào."
Từ ẩn dụ này ta thấy rõ rằng giáo lý của
đức Phật là cốt để đưa con người đến an ổn, thanh tịnh, hạnh phúc, đạt
đến Niết-bàn (Nirvàna). Toàn bộ lý thuyết đức Phật dạy đều dẫn đến cứu
cánh ấy. Ngài không nói ra những điều chỉ để mà thỏa mãn tò mò tri
thức. Ngài là một vị Thầy thực tiễn chỉ dạy những điều sẽ đem lại hạnh
phúc an vui cho con người.
Một lần đức Phật ở lại trong một rừng
Simsapa ở thành Kosambi (gần Allanhabad). Ngài cầm một nắm lá, và hỏi
các môn đệ:
- Hỏi các thầy Tỳ kheo, các thầy nghĩ thế
nào? Lá trong tay ta nhiều hơn hay lá trong rừng nhiều hơn?
- Bạch đức Thế Tôn, lá trong tay của đấng
Giác ngộ rất ít, nhưng lá trong rừng Simsapa đây quả thật nhiều hơn
muôn vàn.
- Cũng thế, hỏi các Tỳ kheo, ta chỉ dạy
các ông rất ít từ những gì ta đã kiến giải được. Những gì ta không nói
với các ông thì thật nhiều hơn muôn vàn. Và tại sao Như Lai đã không
giảng dạy những điều ấy? Bởi vì nó không ích lợi... không đưa đến
Niết-bàn. Chính vì thế mà ta đã không nói những điều ấy.[33]
Thật là vô ích cho ta khi cố suy tưởng -
như vài học giả đã cố làm một cách vô vọng - về những gì đức Phật biết
nhưng không nói cho môn đệ.
Ðức Phật không muốn bàn đến những vấn đề
siêu hình không cần thiết, hoàn toàn thuộc địa hạt tư duy, phát sinh
những tưởng tượng. Ngài xem chúng như một "rừng quan niệm". Dường như
chính trong số những môn đệ của Phật cũng có những người không thích
thái độ này của Ngài. Trường hợp một người trong số ấy là Man đồng tử
(Màlunkyaputta) đã thưa hỏi 10 câu hỏi cổ điển danh tiếng về những vấn
đề siêu hình và xin đức Phật trả lời.[34]
Một ngày kia Màlunkyaputta, sau khi xuất
thiền vào buổi xế, đi đến đức Phật đảnh lễ, ngồi xuống một bên và hỏi:
- Bạch đức Thế Tôn, khi con đang ngồi
thiền định một mình, ý tưởng này đã đến với con: "Có những vấn đề mà
đức Thế Tôn đã không giải thích, để sang bên và loại bỏ. Ðấy là:
1. Vũ trụ trường tồn, hay 2. không trường
tồn;
3. Vũ trụ hữu hạn, hay 4. vô hạn;
5. Linh hồn là một với thể xác, hay 6. linh hồn khác thể xác khác.
7. Ðức Như Lai có còn tồn tại sau khi chết, hay 8. Ngài không tồn tại
sau khi chết.
9. Ngài vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết, hay 10. Ngài vừa
không tồn tại và cũng vừa không không tồn tại.
Những vấn đề này đức Thế Tôn đã không
giải thích cho ta, thái độ này không làm ta thỏa mãn. Ta không ưa
thích thái độ ấy. Ta sẽ đi đến đức Thế Tôn và thưa hỏi Ngài về việc
này. Nếu đức Thế Tôn không giải thích cho chúng ta, ta sẽ từ bỏ đoàn
thể tăng chúng và ra đi. Nếu đức Thế Tôn biết được vũ trụ trường cửu,
Ngài hãy nói thế. Nếu đức Thế Tôn không biết vũ trụ là trường cửu hay
không v.v.. thì một người không biết hãy nên nói thẳng ra là: "Ta
không biết, ta không thấy rõ".
Sự trả lời của đức Phật cho
Màlun-kyaputta quả có lợi ích cho hàng triệu người trên thế giới hiện
nay đang phung phí thời giờ quý báu vào những vấn đề siêu hình và làm
bận trí mình một cách không cần thiết:
- Này Màlunkyaputta, ta có bao giờ nói
với ông: "Hãy lại đây, Màlunkyaputta, sống đời thánh thiện dưới bóng
ta, ta sẽ giải thích những vấn đề ấy cho ông hay không?"
- Bạch Thế Tôn, không.
- Còn ông, này Màlunkyaputta, ông có nói
với ta: "Bạch Thế Tôn, con sẽ sống đời thánh thiện dưới bóng Ngài và
Ngài sẽ giảng giải những vấn đề ấy cho con không?"
- Bạch Thế Tôn, không.
- Ngay bây giờ, Màlunkyaputta, ta không
nói với ông: "Hãy đến sống đời thánh thiện dưới bóng ta, ta sẽ giải
thích những vấn đề ấy cho ông". Và ông cũng không nói với ta: "Bạch
Thế Tôn, con sẽ sống đời thánh thiện dưới bóng đức Thế Tôn và Ngài sẽ
giải những vấn đề ấy cho con." Trong những trường hợp ấy, hỏi người
điên rồ kia, ai chối từ ai?"
[35]
Hỏi Màlunkyaputta, nếu một người nào nói:
"Tôi sẽ không sống đời thánh thiện dưới bóng đức Thế Tôn nếu Ngài
không giải thích cho tôi những vấn đề ấy" thì y có thể chết trước khi
những câu hỏi được Như Lai giải đáp. Giả sử, hỏi Màlunkyaputta, một
người bị trúng mũi tên độc và bạn bè bà con đưa y đến một y sĩ. Giả sử
khi ấy người kia nói: "Ta sẽ không để rút mũi tên này ra nếu ta không
biết được ai bắn, người ấy là một người Sát đế lị (Ksatriya) hay một
người Bà la môn (thuộc giai cấp tu sĩ) hay một người Phệ xá (Vaisya,
giai cấp thương nông) hay một người Thủ đà la (Sùdra - thuộc giai cấp
hạ tiện), tên người ấy là gì, gia đình ra sao, người ấy cao, thấp hay
tầm vóc trung bình, da người ấy đen, nâu hay vàng, người ấy đến từ
làng tỉnh hay đô thị nào. Ta sẽ không để rút mũi tên này ra nếu ta
không biết được loại cung nào đã bắn ta, dây cung ra sao, loại mũi tên
gì, làm bằng lông gì và đầu tên làm bằng chất gì." Hỏi Màlunkyaputta,
người ấy sẽ chết trước khi biết được điều nào trong số những câu hỏi
ấy. Cũng thế, hỏi Màlunkyaputta, nếu một người nói: "Ta sẽ không theo
đời sống thánh thiện dưới bóng đức Như Lai cho đến khi Ngài giải đáp
những câu hỏi như: thế giới trường tồn hay không, v.v..", người ấy sẽ
chết trước khi được Như Lai giải đáp.
Khi ấy đức Phật giải thích cho
Màlun-kyaputta rằng đời sống thánh thiện không phụ thuộc vào những
quan niệm ấy. Dù người ta có quan niệm thế nào về những vấn đề ấy đi
nữa, thì vẫn có sinh, lão, bệnh, tử, ưu, bi, khổ não... mà sự chấm dứt
những điều ấy (nghĩa là Niết-bàn) ta nói là có thể thực hiện ngay
trong cuộc sống này.
Bởi thế, này Màlunkyaputta, hãy ghi nhớ
trong tâm trí: những gì ta đã giải thích, thì coi là được giải thích
và những gì ta đã không giảng giải thì xem là đã không được giảng
giải. Những gì là điều ta đã không giảng giải? Thế giới trường cửu hay
không v.v.. (10 quan niệm trên) ta đã không giải thích. Vì sao, hỏi
Màlunkyaputta, mà ta đã không giải thích chúng? Bởi vì nó không ích
lợi, không quan hệ căn bản đến đời sống thánh thiện tâm linh, không
đưa đến sự chán bỏ, sự giải thoát, sự chấm dứt khổ đau, sự an tĩnh, sự
thâm nhập, sự liễu ngộ Niết-bàn. Chính vì thế mà ta đã không nói cho
ông về những vấn đề ấy.
Còn những gì, hỏi Màlunkyaputta, ta đã
giải thích? Ta đã giải thích khổ (dukkha), nguyên nhân của khổ, sự
diệt khổ, và con đường đưa đến sự diệt khổ[36].
Hỏi Màlunkyaputta, vì sao mà ta đã giải thích chúng? Bởi vì nó ích
lợi, nó quan hệ căn bản đến đời sống thánh thiện tâm linh, nó đưa đến
sự chán bỏ, sự giải thoát, sự chấm dứt khổ đau, sự an tĩnh, sự thâm
nhập, sự liễu ngộ, Niết-bàn. Bởi thế ta đã giải thích chúng."[37]
Bây giờ ta hãy xét đến Tứ diệu đế mà đức
Phật bảo Màlunkyaputta rằng Ngài đã giải thích.
Ghi chú:
[1]
Dhp. XII 4
[2]
D II (Colombo, 1929), p.62 (Mahàparinibbàna-sutta)
[3]
Tathàgata (Như lai) "người đã đạt đến Chân lý", "người tìm ra
Chân lý". Danh từ này đức Phật thường dùng để tự xưng và chỉ chung
các đức Phật khác.
[4]
Dhp. XX 4
[5] Sangha có
nghĩa "đoàn thể", nhưng trong Phật giáo danh từ này chỉ "đoàn thể
tăng lữ Phật giáo", nghĩa là tập đoàn tu sĩ. Phật, Pháp (Dhamma hay
Giáo lý) và Tăng (đoàn thể Tăng già) được xem là Tam quy (Tisarana)
hay Tam bảo (Tiratana).
[6]
D II (Colombo, 1929), p.62
[7]
A (Colombo, 1929), p.115
[8]
Vimamsaka-sutta, no 47 of M.
[9] D II (Colombo, 1929) P. 95;
A (Colombo, 1929), P. 239.
[10]
D II (Colombo, 1929) p.95; A (Colombo, 1929), p.239
[11]
Mahàvira, người sáng lập Kỳ na giáo (Jainism), là một người đồng
thời với đức Phật, và có lẽ hơn Ngài vài tuổi.
[12]
Kinh Upàli, số 56 Trung bộ.
[13]
Trụ đá, XII
[14]
Ở Ấn Ðộ,
những xưởng đồ gốm thường rộng rãi yên tĩnh. Trong các kinh bản Pali
ta thấy những sa môn khổ hạnh cũng như Phật, trong cuộc sống lang
thang thường nghỉ đêm tại một xưởng đồ gốm.
[15]
Ðiều đáng chú ý là Phật gọi người này bằng danh từ bhikkhu, một danh
từ dùng cho tu sĩ Phật giáo. Về sau ta sẽ thấy vị này không phải một
phần tử của Tăng già, vì sau khi nghe Pháp anh ta mới xin xuất gia
thọ giới với Phật. Có lẽ vào thời Phật, danh từ Tỳ kheo đôi khi được
xử dụng không phân biệt đối với tất cả nhà tu, hoặc vì Phật xử dụng
danh từ ấy một cách không chặt chẽ lắm. Bhikkhu nghĩa là khất sĩ, kẻ
xin ăn. Ngày nay danh từ ấy chỉ dùng cho tu sĩ Phật giáo.
[16]
Xem chương nói về Diệu đế thứ ba.
[17]
Danh từ pali là avuso, tiếng xưng hô giữa những người ngang hàng.
[18]
Bò ở Ấn độ
thường chạy rong ngoài đường. Theo chi tiết này, thì dường như
truyền thống thả bò như vậy có từ rất xưa. Nhưng thường những bò này
hiền chứ không nguy hiểm.
[19]
A-la-hán là một người đã thoát khỏi những xấu xa bất tịnh như dục
vọng, thù hằn, ác độc, ngu si, kiêu ngạo, ngã mạn v.v.. Người đã đạt
đến tầng thứ tư và tầng cuối cùng trong sự thực chứng Niết-bàn, đầy
trí Tuệ từ bi và những đức tính trong sạch cao quý. Lúc này
Pukkusàti chỉ mới đạt đến tầng thứ ba mà thuật ngữ gọi là Bất hoàn
(không trở lại - Anàgàmi). Tầng thứ hai gọi là Nhất lai (còn một
phen trở lại cõi Ta bà - Sakadàgàmi) và tầng thứ nhất gọi là Dự lưu
(nhập vào dòng Thánh - Sotàpanna).
[20]
Chuyện "The Pilgrim Kamanita" của Karl Gjellerup dường như rút cảm
hứng từ chuyện này.
[21]
Abhisamuc, p.6
[22]
Luận án Ph.D của Edith Ludowyk-Gyomroi nhan đề The Role of the
Miracle in Early Pali Literature bàn đến đề tài này (chưa xuất bản).
Cũng cùng tác giả ấy có viết cho một mục về cùng một đề tài trong
UNIVERSITY OF CEYLON REVIEW, Vol.1, No 1 (April, 1943) p.74 và kế
tiếp.
[23]
Ở đây chữ "tin" được dùng trong nghĩa thông thường "mộ đạo, sùng
đạo, ngoan đạo".
[24]
S II (PTS), p.117
[25]
S III PTS), p.152
[26]
S V, (PTS), p.432; III, p.103; M III (PTS), p.19
[27]
S V (PTS), p.422
[28]
Cankì-sutta, No 95 of M
[29]
Sn (PTS), p.151 (v.798).
[30]
Trong Mahàtanhàsankhaya-sutta, M 38.
[31]
M I (PTS), p.260
[32]
M I (PTS), p.p. 134-135. Dhamma (Pháp) ở đây, theo Luận có nghĩa
những sự chứng đạt tâm linh cao cả, những ý tưởng và quan niệm thanh
khiết. Sự chấp vào những điều cao quý này mà còn phải xả bỏ, thế thì
những điều xấu xa lại càng nên xả bỏ hơn nữa. MA II (PTS), p. 109
[33]
SV (PTS), p. 437
[34]
Cùla-Màlunkya-sutta, Tiểu kinh Man đồng tử, Trungbộ 63.
[35]
Có nghĩa không có gì ràng buộc giữa hai bên.
[36]
Tứ diệu đế (4 chân lý cao cả) này được giải thích trong bốn chương
sau.
[37]
Dường như lời khuyên này của Phật đã có hiệu quả mong muốn đối với
Màlunkyaputta, vì ở một chỗ khác ta thấy ông ta lại đến viếng đức
Phật để xin chỉ giáo, và nhờ làm theo lời dạy, ông đã chứng quả A la
hán. A (Colombo, 1929), pp. 345-346.