NHỮNG
TRUYỆN DUYÊN KHỞI
TRONG LUẬT
NGŨ
PHẦN
Lược thuật: Phước
Thắng
Hiệu đính:
Thích Đỗng Minh
Chú thích: Tâm Nhãn
--- o0o ---
CUỘC ÐỜI CỦA TỲ-KHEO LIÊN HOA SẮC
Ðức
Phật đang lưu trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ trong ấp Ưu-thiện-na có một Cư sĩ ở
tuổi thiếu niên, trên đường du lịch vui chơi gặp một người con gái tên là Liên
Hoa Sắc, sắc đẹp mơn mỡn như hoa đào, dáng vẻ cực kỳ xinh đẹp. Hợp tình hợp
tánh, yêu nhau thắm thiết, trở thành vợ chồng xứng đôi vừa lứa nhất thiên hạ.
Sau thời gian ngắn, người vợ mang thai. Gần ngày sanh, cô ta về lại nhà cha mẹ
mình. Ở đây, cô sanh một bé gái.
Vì
người vợ nằm nơi nên người chồng không thể gần gũi được. Anh ta lại vụng trộm tư
thông với mẹ vợ của mình... Liên Hoa Sắc biết được, muốn vất bỏ tất cả, cắt đứt
đạo vợ chồng, nhưng lại sợ liên lụy đến cha mẹ; hơn nữa, vì thương con nên phải
ôm sầu, nuốt hận, chịu tủi nhục để nuôi con, nhằm che mờ cái điều khốn nạn
kia...
Về
lại nhà chồng, cúi đầu nuôi con được một thời gian 8 năm rồi bỏ nhà ra đi để lại
đứa con lên 8. Ðến được thành Ba-la-nại
trong sự đói khát lã người, Liên Hoa Sắc ngồi nghỉ bên mé nước. Trong lúc ấy, có
ông Trưởng giả nọ du ngoạn qua đây, trông thấy Liên Hoa, ông ta say đắm, đem
lòng sủng ái và ngõ lời hỏi thăm:
-
Cô ở đâu, dòng họ cha mẹ cô thế nào? Hiện nay cô có bị ai ràng buộc không? Hay
còn độc thân?
Liên Hoa Sắc đáp:
- Tôi là
đứa con gái thuộc dòng họ... nay tôi không thuộc sở hữu của ai.
Ông
Trưởng giả lại hỏi:
-
Nếu không thuộc sở hữu của ai thì có thể vì tôi làm chánh thất được không?
Liên Hoa Sắc nói:
-
Người con gái lấy chồng, tại sao không được?!
Ông
Trưởng giả liền đưa cô ta lên xe trở về nhà, rồi tấn phong làm vợ cả. Liên Hoa
Sắc sắp đặt chu toàn mọi việc trong nhà. Từ lớn đến nhỏ hòa thuận, sung túc, vợ
chồng tương kính, nặng nghĩa lẫn nhau. Sau 8 năm, bấy giờ ông Trưởng giả nói với
vợ rằng:
-
Tôi có đầu tư vốn tại ấp Ưu-thiện-na, theo sổ sách, kiểm tra số nợ lãi 8 năm
qua, thống kê cho đến nay lãi sanh từ vốn ấy lên đến con số cả ức. Hôm nay tôi
muốn đến đó thu lãi về, chúng ta tạm thời xa nhau, chắc em đồng ý chứ?
Người vợ nói:
-
Phong tục tại ấp đó người nữ thích phóng dật, anh đến đó coi chừng bị mất tiết
tháo của người trượng phu. Của cải như phân, như đất, sao lại bận lòng tính toán
làm chi?!
Người chồng trả lời:
-
Tôi tuy biết rõ nhược điểm của mình, nhưng không đến nỗi bị cám dỗ, mê loạn.
Người vợ lại nói:
-
Nếu anh quyết định cần phải đi thì nên suy nghĩ kỹ và cho em nghe một lời thề.
Người chồng nói:
-
Tốt lắm, anh thề rằng: “Nếu anh có mống tâm yêu thương nhăn nhít, thì khi trở
về, anh sẽ chết với tà tâm đó ngay tại cửa ngõ”.
Với
lời thề như thế, người chồng đến ấp Ưu-thiện-na. Vì phải thu lãi nhiều nơi, nên
thời gian kéo dài đến cả năm. Xa nhà càng lâu ngày, nhớ nhà càng gấp bội, cái
thiếu tình lại sanh nọ, kia, nên muốn tìm của lạ, nhất là tiền bạc dư giả mua
tiên cũng được. Trưởng giả nảy ra ý nghĩ: “Ta nên giải quyết thế nào để không đi
ngược lời thề với vợ, mà vẫn thỏa tình hiện nay?”. Trưởng giả lại tính: “Nếu ta
tà dâm thì trái lời thề với vợ, thôi thì tạo một nhà riêng là êm chuyện, khỏi
kẹt vào lời thề”.
Thế
rồi, ông ta lân la dò tìm cái của riêng ấy. Gặp một người con gái dung nhan tao
nhã, dịu dàng, nét người đoan chánh toát ra một sức hấp dẫn lạ kỳ. Ông ta đem
lòng yêu thương cô bé này một cách say đắm. Ông thẳng tiến tìm đến nhà cầu hôn.
Cha
người con gái thấy ông Trưởng giả tiền tài loang loáng, lại rất hào phóng. Vớ
được người giàu sụ như thế, người cha hoan hỷ nhận lời cầu hôn của Trưởng giả.
Cô gái bây giờ trở thành người vợ trẻ của kẻ trọc phú. Thu nợ xong, ông Trưởng
giả cùng với người vợ trẻ quay về cố quốc. Ông đưa người vợ đến an nhàn ở trong
một tổ ấm riêng biệt. Êm ấm đâu đấy, ông mới về nhà cũ. Coi như chẳng có việc gì
xảy ra. Từ đó, sáng đi, chiều về, khác hẳn với ngày trước. Liên Hoa Sắc cảm nhận
được sự bất thường, âm thầm, cô ta theo dõi rồi hỏi người tùy tùng của chồng.
Người ấy bảo rằng: “Ngoài ấy có một thiếu phụ nên mới đi - về như vậy”.
Chiều hôm đó, người chồng về, Liên Hoa Sắc hỏi thẳng vấn đề:
-
Anh đã có người hầu sao lại giấu em, không cho em thấy?!
Ông
Trưởng giả thú nhận:
-
Sợ em biết sự thật lại hận anh, nên phải giấu ngoài ấy.
Người vợ nói:
-
Em không ghen ghét hiềm hận đâu! Thần minh chứng giám cho em điều này, anh nên
gọi cô ấy về để cùng em lo liệu việc nhà.
Nghe lời vợ, Trưởng giả đưa cô em về nhà...
Thời gian sau, nhân lúc gội đầu, để ý kỹ tướng mạo, Liên Hoa Sắc mới nghi là con
gái mình, bà ta khéo léo hỏi rõ lý lịch, và thiếu phụ trả lời cặn kẽ về cha mẹ,
dòng tộc, làng xã của mình. Thế là vỡ lẽ! Liên Hoa Sắc kinh hoàng nói:
-
Xưa kia mẹ và con đồng một chồng! Nay con với mẹ cùng một chàng rể! Sanh tử mê
loạn đến nổi này ư?! Nếu không đoạn ái dục, xuất gia học đạo thì sự điên đảo, mê
hoặc này làm sao chấm dứt được?!
Liên Hoa Sắc liền vất bỏ tất cả ra đi và lần lữa đến cửa Kỳ-hoàn
trong sự đói khát, mệt lã. Bà ta ngồi tựa vào gốc cây.
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn giữa một rừng người vây quanh. Liên Hoa Sắc thấy hàng hàng,
lớp lớp người vào ra tấp nập, nghĩ bụng: “Tiết hội chắc có thức ăn”, bèn đi lần
vào tịnh xá. Thì ra Thế Tôn đang thuyết pháp trước số đông người đang lắng nghe.
Liên Hoa Sắc lắng nghe pháp, lãnh hội được vấn đề, và sự đói khát ngay lúc ấy
cũng xua tan đâu mất. Bấy giờ, Thế Tôn quan sát khắp hội chúng xem ai có thể độ
được. Ngài thấy rõ chỉ có Liên Hoa Sắc là người sẽ đắc đạo quả, nên liền nói
pháp bốn chân đế: Khổ, Tập, Tận, Ðạo. Từ nơi chỗ ngồi Liên Hoa Sắc rũ bỏ được
mọi trần cấu, sở đắc con mắt pháp thanh tịnh. Khi đắc quả rồi, Liên Hoa Sắc một
lòng chấp tay đứng hướng về đức Phật.
Ðức
Phật nói pháp xong, hội chúng ra về. Liên Hoa Sắc đến trước đức Phật, kính lễ
sát chân Ngài, quỳ gối, chấp tay bạch Phật:
-
Con xin nguyện được xuất gia trong Chánh pháp của đức Phật.
Ðức
Phật chấp nhận rồi bảo Tỳ-kheo ni Ba-xà-ba-đề:
-
Này Tỳ-kheo ni, nên độ người nữ này tu tập hành đạo.
Ma-ha Ba-xà-ba-đề vâng lời dạy, liền độ cho xuất gia thọ giới. Liên Hoa Sắc
siêng năng tinh tấn hành đạo, nhanh chóng thành bậc La-hán.
Sau
khi thành La-hán, nhờ thú vui trong các cảnh thiền giải thoát, nên dung nhan,
tướng mạo Liên Hoa Sắc càng sáng rỡ bội phần hơn trước.
Ngày ấy, vào giờ trì bát, Liên Hoa Sắc vào thành khất thực. Một người Bà-la-môn
trông thấy, ông ta đắm say ngay sắc đẹp của
Liên Hoa, liền có ý nghĩ: “Ðây là Tỳ-kheo ni, ta không thể chiếm đoạt
ngay được mà phải khôn khéo tìm cách tiếp cận, rồi dồn vào thế có thể hành sự
được...”
Khất thực xong, Liên Hoa sắc trở về vườn An-đà,
rồi vào trú phòng của mình. Người Bà-la-môn kia theo sau theo dõi, nắm vững chỗ
ở và nếp sống của Liên Hoa. Hôm sau, khi đến giờ khất thực, lợi dụng lúc vắng vẻ
không người, ông ta đột nhập phòng Liên Hoa qua ngã sau, rồi chui xuống gầm
giường nằm yên đợi chờ. Suốt ngày ấy, các Tỳ-kheo ni tập trung nghe pháp và nghe
xong thời pháp thì trời đã tối. Về đến phòng, vì mỏi mệt nên Liên Hoa Sắc đặt
mình xuống là thiếp đi. Ngay lúc ấy, Bà-la-môn dưới gầm giường bò ra làm chuyện
bất tịnh. Tỳ-kheo ni Liên Hoa liền thức dậy, rồi vụt bay lên hư không. Còn đối
với người Bà-la-môn thì ngay trên giường ông đã bị đọa thẳng vào địa ngục. Liên
Hoa Sắc nhân đó bay đến chỗ đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân Ngài, rồi bạch
lên Phật vấn đề vừa xảy ra.
Ðức
Phật hỏi:
-
Vào lúc ấy tâm cô thế nào?
Liên Hoa Sắc thưa:
-
Lúc ấy như lưới sắt nung đỏ rực, áp vào thân con.
Ðức
Phật dạy:
-
Như thế là vô tội.
Liên Hoa Sắc lại bạch Phật:
-
Ngủ một mình có phạm tội hay không?
Ðức
Phật dạy:
-
Người đắc đạo thì không phạm.
Vào
thời gian ấy, có bọn giặc tập trung tại một địa điểm rồi thảo luận: “Vật dụng mà
chúng ta đoạt được nên trao đổi như thế này... để có thức ăn ngon và gái đẹp”.
Ða số bọn chúng đều đồng ý rằng: “Vườn An-đà kia là trú xứ của Tỳ-kheo ni, chắc
chắn có sắc đẹp và cũng sẽ có nhiều thức ăn ngon cung cấp cho ta, ta đến đó phân
chia trao đổi vật dụng, đương nhiên chúng ta sẽ được như ý muốn”. Trong lúc ấy,
tên cầm đầu bọn giặc lại có lòng kính tin Phật pháp, nghe nói như vậy, lấy làm
lo lắng, trong ý tưởng ông ta: “Bọn chúng chắc sẽ đến gây não loạn các Tỳ-kheo
ni. Ta nên âm thầm cho người đến báo trước”. Tên cầm đầu bọn giặc liền thực hiện
việc mật báo. Tỳ-kheo ni nhận được với lời cảnh báo: “Tối nay sẽ có bọn người ác
đến đây khủng bố, ắt sẽ sanh náo loạn, Chư ni nên đi tránh để có được sự an
toàn”.
Trong thành Xá-vệ có một nơi dành riêng cho Tỳ-kheo Tăng trạm trú, ngôi nhà này
do một đại thần phát tâm xây dựng cúng dường. Ngày hôm ấy không có Tăng trạm trú
ở đây, nhân đó, các Tỳ-kheo ni, sau khi được mật báo đã vội vã về đây lúc xế
chiều và tạm trú ngụ tại ngôi nhà này.
Tối
hôm ấy, bọn giặc đến vườn An-đà, chúng chẳng tìm thấy một ai cả. Trước sự thất
vọng của bọn giặc, người chủ tướng lại vui mừng, tâm niệm rằng: “Các Tỳ-kheo ni
đã thoát được cảnh sĩ nhục, không gì vui bằng, ta nên làm việc cúng dường”. Chủ
tướng lấy một xấp vải rất tốt, gói đầy đủ đồ ăn, thức uống thuộc loại cao sang
mỹ vị rồi treo lên nhánh cây với tâm niệm rằng: “Nếu Tỳ-kheo ni nào đắc đạo Thần
thông thì đến lấy gói thức ăn này ”.
Tâm
niệm này liền được cảm ứng, Tỳ-kheo ni Liên Hoa Sắc nhanh như cánh tay co duỗi
của lực sĩ, từ thành Xá-vệ đến vườn An-đà, lấy gói thức ăn trên nhánh cây.
Sáng hôm sau, đến giờ ăn, thay vì ăn, Liên Hoa Sắc thiết dọn rồi mời hai Trưởng
lão Ưu-bà-tư-na và Bạt-nan-đà đến cúng dường. Hai vị nhận sự cúng dường này, và
sau khi thọ thực xong, Liên Hoa Sắc ngồi trên chiếc ghế nhỏ đối diện, thỉnh cầu
nhị vị Trưởng lão thuyết pháp. Trưởng lão Ưu-bà-tư-na nói diệu pháp xong liền
đứng dậy ra về, còn Bạt-nan-đà nán lại, hỏi Liên Hoa Sắc:
-
Sư cô được thức ăn hảo hạng này từ đâu?
Liên Hoa Sắc trình bày lại sự việc từ đầu đến cuối như đã xảy ra.
Bạt-nan-đà nói:
-
Có thể cho tôi xem tấm vải ấy được không?
Yêu
cầu này được thỏa mãn và Bạt-nan-đà nhìn thấy xấp vải giá trị kia thì lòng tham
nổi dậy, muốn trưng dụng nên nài nỉ xin cho được.
Liên Hoa Sắc nói:
-
Ðiều này không thể được, tại sao vậy? Bởi người nữ phước mỏng nên cần phải sắm
giữ 5 y.
Bạt-nan-đà nói:
- Như
người đem voi, ngựa bố thí mà lại không cho dây cương, sư cô cũng như vậy: Tại
sao cúng dường thức ăn mỹ vị cao sang thì được, mà lại tiếc chi một tấm vải
không cho là sao?
Bạt-nan-đà bằng tài ăn nói của mình đã tìm cách thuyết phục cho kỳ được. Trong
thế chẳng đặng đừng, Liên Hoa Sắc đành trao cho Bạt-nan-đà tấm vải giá trị này.
Ðược tấm vải này rồi, Bạt-nan-đà trở về lại trú xứ. Các Tỳ-kheo thấy tấm vải đẹp
nói:
-
Thầy là người phước đức nên mới được tấm vải tốt này.
Bạt-nan-đà nói:
-
Tôi đâu có phước đức gì, năn nỉ muốn gãy cả lưỡi, Tỳ-kheo ni mới cho tôi đó!
Các
Tỳ-kheo nghe thế liền quở trách:
-
Tại sao thầy lại cưỡng bức bằng lời nói để thu đoạt vải y của Tỳ-kheo ni?
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn không muốn 4 chúng tới lui ồn ào, nên bảo các Tỳ-kheo:
-
Nay Ta muốn vào tịnh thất ba tháng, đừng để ai đến chỗ Ta đang trú, chỉ trừ
Tỳ-kheo đem cơm. Các thầy nên lập ra quy định này.
Vâng lời Phật dạy, các Tỳ-kheo lập ra định chế ghi rõ:
“Từ
nay không ai được đến chỗ Phật ở, chỉ trừ Tỳ-kheo đem cơm. Nếu người nào vi
phạm, phạm Ba-dật-đề
”.
Qui
chế này, Trưởng lão Ưu-bà-tư-na không hay biết, sau khi đến thành Xá-vệ, hỏi một
Tỳ-kheo để biết đức Phật ở phòng nào. Theo chỉ dẫn của Tỳ-kheo này,
Ưu-bà-tư-na-đến trước cửa phòng Phật, đưa tay gõ cửa. Ðức Phật mở cửa.
Ưu-bà-tư-na kính lễ sát chân Phật rồi ngồi lui ra một bên. Ðức Phật hỏi
Ưu-bà-tư-na:
-
Chúng của thầy thanh tịnh, rất mực oai nghi, thầy giáo hóa cách nào mà được như
vậy?
Tỳ-kheo ấy thưa:
- Nếu có
người nào đến con cầu xin xuất gia thì con dạy họ 12 hạnh Ðầu-đà. Con bảo họ:
“Phải trọn đời làm Tỳ-kheo ở A-lan-nhã, khất thực, nhất tọa thực, tuần tự khất
thực, ở nơi gò mả, mặc y phấn tảo, ba y, phu tọa tùy thân, ngồi dưới gốc cây,
ngồi chỗ đất trống. Kính bạch đức Thế Tôn! Nếu người nào nói trọn đời có thể
phụng hành pháp này thì mới được vào chúng của con, con làm thầy họ.
Ðức
Phật khen:
-
Hay lắm! Hay lắm! Như vậy, có thể gọi thầy là hạng người khéo giáo dục đồ chúng.
Ðức
Phật lại hỏi:
- Thầy có
biết trong Chúng tăng ở đây có đề ra qui chế gì hay không?
Trưởng lão Ưu-bà-tư-na thưa:
- Con không hề hay
biết việc này. Vì con từng nghe Phật dạy: “Những gì Phật chưa chế, không được tự
ý lập ra; những gì Phật đã quy định, nên trân trọng làm theo”.
Ðức
Phật nói lại quy chế trên cho thầy này nghe. Trưởng lão Ưu-bà-tư-na thưa:
-
Con không tùy theo quy chế của Tăng mà sám hối tội Ba-dật-đề được.
Ðức
Phật dạy:
-
Hay lắm! Thầy nhận xét như thế là đúng!
Trong lúc đó, Tỳ-kheo sống lâu năm ở đây đứng trước phòng, chờ Ưu-bà-tư-na đi ra
rồi bảo:
-
Thầy phạm quy chế của Tăng, nên tác pháp sám Ba-dật-đề.
Trưởng lão Ưu-bà-tư-na hỏi:
-
Tôi phạm Ba-dật-đề nào vậy?
Các
Tỳ-kheo trình bày đầy đủ nội dung quy chế trên. Trưởng lão Ưu-bà-tư-na trả lời:
-
Tôi không thể thực hiện theo quy chế của Tăng để sám hối được! Tại sao thế? Bởi
chính tôi nghe Phật dạy: “Nếu Phật không chế cấm thì Tăng không được phép chế
cấm. Nếu Phật đã chế rồi Tăng không được trái phạm”.
Lúc
ấy, đức Phật bước ra nói với các Tỳ-kheo:
-
Từ nay nếu có Tỳ-kheo A-lan-nhã nào như Ưu-bà-tư-na thì cho phép đến chỗ Ta.
Các
Tỳ-kheo ghi nhận lời dạy, lại có ý nghĩ: “Chúng ta nên trân trọng tu theo hạnh
Ðầu-đà này để đến được chỗ đức Thế Tôn”. Thế là các Tỳ-kheo đua nhau tu hạnh
Ðầu-đà...
Bấy
giờ, các Cư sĩ xây dựng các phòng xá để cúng dường, nhưng chẳng có Tỳ-kheo nào
nhận sự cúng dường này. Vấn đề này được các Tỳ-kheo Trưởng lão bạch lên Phật.
Ðức Phật dạy các Tỳ-kheo:
-
Từ nay cho phép 4 chúng tự do đến thăm Ta.
Tỳ-kheo ni Ba-xà-ba-đề nghe Phật cho phép như vậy, liền cùng 500 Tỳ-kheo ni lên
đường về thăm đức Phật. Trên đường đi, gặp Trưởng lão Ưu-bà-tư-na. Trong chúng
của Ưu-bà-tư-na có một Tỳ-kheo mặc y thô rách, thấy vậy Ba-xà-ba-đề hỏi:
-
Tại sao Trưởng lão mặc chiếc y rách nát như vậy?
Vị
ấy trả lời:
-
Chẳng còn chiếc nào khác nữa!
Tỳ-kheo ni chỉ vào chiếc y mình đang mặc, nói:
-
Thầy có thể mặc chiếc y của con không?
-
Có thể được.
Ba-xà-ba-đề lại hỏi:
-
Trưởng lão có thể cho con chiếc y mà ngài đang mặc không?
-
Có thể. - Trưởng lão đáp.
Hai
bên trao đổi y cho nhau.
Khi
đến trước đức Phật,Tỳ-kheo ni Ba-xà-ba-đề đảnh lễ sát chân Phật, rồi ngồi lui ra
một bên. Ðức Phật hỏi Cù Ðàm di:
-
Tại sao cô mặc chiếc y rách bươm như thế?
Cù-đàm di trình bày sự việc như trên. Ðức Phật nói pháp cho Cù-đàm di nghe, rồi
bảo về trở lại trú xứ.
Sau
đó, đức Phật cho tập hợp Tỳ-kheo Tăng và trước Tăng, Tỳ-kheo đương sự xác nhận
việc trao đổi y kia là sự thật. Ðức Phật quở trách vị này là thiếu sáng suốt,
nhiều ham muốn. Nhân đó, sự việc của Bạt-nan-đà được bạch lên Phật và Bạt-nan-đà
cũng thú nhận sự thật này. Phật quở trách và chế cấm như vầy:
-
Tỳ-kheo nào nhận lấy y từ Tỳ-kheo ni, phạm Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề
Tuy nhiên
về sau, Phật cho phép nhận y của Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni bà con mà không phạm điều
chế cấm trên.
CHUYỆN GIẶT NHUỘM
Khi
đức Phật ở tại thành Xá-vệ, bấy giờ lúc trời vừa sáng, Tỳ-kheo Bạt-nan-đà mặc y,
bưng bát đến chỗ cư trú của Tỳ-kheo ni Thâu-la-nan-đà... Cách ngồi bất cẩn của
ni cô này để lộ ra chỗ kín. Bạt-nan-đà nhìn thấy, dục thịnh quá đổi, đến nỗi
xuất bất tịnh. Tỳ-kheo ni biết, khẻ bảo:
-
Trưởng lão, thay y cho tôi giặt.
Bạt-nan-đà trao y thay cho cô ni. Nhìn thấy thứ bất tịnh này, cô ta lại có tác ý
không nghiêm, lấy thứ bất tịnh đặt vào chỗ kín của mình...
Lại
có Tỳ-kheo khác đưa y cho Tỳ-kheo ni giặt, nhuộm, đập. Việc này làm ảnh hưởng
lớn đến việc tu tập, vì thời gian đọc tụng, tọa thiền, hành đạo của chư ni bị
phí lãng vào việc giặt giũ kia. Người thế gian thấy thế, lại lắm lời chê trách,
mỉa mai: “Các Tỳ-kheo ni lấy việc giặt, nhuộm, đập y làm sự nghiệp; người tu
hành với kẻ tại gia nào có khác gì đâu?!”
Vào
dịp ấy, Tỳ-kheo ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề cùng với 500 Tỳ-kheo ni đến chỗ của đức
Phật ở trong thành Xá-vệ. Sau khi đầu, mặt đảnh lễ sát chân Ngài, chư ni ngồi
lui sang một bên. Ðức Phật hỏi Cù Ðàm di:
-
Tại sao tay chân của các Tỳ-kheo ni lại dính đầy sắc màu nhuộm như thế?!
Chư ni nhân đó bạch lên Phật vấn đề
Tỳ-kheo sai giặt, nhuộm y, làm lãng phí việc tu học.
Ðức Phật vì họ nói
diệu pháp xong, bảo họ trở về lại trú xứ.
Sau
đó, đức Phật cho tập hợp Tỳ-kheo Tăng... Trước Phật và Tăng, Tỳ-kheo đương sự
thú nhận việc sai ni giặt, nhuộm y là sự thật, và sự thật về Bạt-nan-đà, nhân
đó, cũng được làm sáng tỏ. Ðức Phật đã nghiêm khắc quở trách Tỳ-kheo vi phạm là
kẻ ngu si, tiếp theo Ngài kiết giới cấm Tỳ-kheo ni giặt, nhuộm y cho Tỳ-kheo. Về
sau có Tỳ-kheo già, yếu bệnh tật nhờ Tỳ-kheo ni bà con trong thân tộc giặt,
nhuộm. Việc này cũng được trình lên Phật và vì là thân tộc nên đây là trường hợp
ngoại lệ, đức Phật cho phép.
KÍNH PHẬT, TRỌNG TĂNG...
Trong thành Xá-vệ, có một Trưởng giả rất thích mặc các loại áo sang trọng. Ông
ta có lòng tin kính Phật pháp một cách thuần thành, mỗi khi đức Phật lưu trú ở
thành này thì ông thường đến nghe pháp. Hôm ấy, ông Trưởng giả mặc trong, ngoài
hai sắc áo tốt, cùng với các vị khách và tuỳ tùng ra ngoài thành, đến viếng thăm
đức Thế Tôn và các Tỳ-kheo. Ðức Phật vì họ nói pháp, họ lấy làm hoan hỷ vì được
nghe Phật chỉ dạy những điều lợi ích. Họ đảnh lễ Phật rồi ra về.
Ra
khỏi trú xứ của Phật, họ gặp ngay Bạt-nan-đà. Bạt-nan-đà lại vì họ thuyết pháp
và trước khi ra về họ ngỏ lời mời:
-
Ngày mai, mời Trưởng lão đến nhà con thọ một bữa cơm đạm bạc.
Bạt-nan-đà nói:
-
Tôi không thiếu ăn, mà lại khổ vì thiếu mặc. Trưởng giả có thể cho bớt tôi chiếc
áo hiện ông đang mặc không?
Ông
Trưởng giả nói:
-
Sẽ cúng cho Ngài, nhưng bây giờ thì không thể được, về nhà tôi sẽ tính liệu sau.
Bạt-nan-đà bảo:
-
Tôi nghe Trưởng giả rất vui làm việc bố thí, tại sao riêng đối với tôi lại thiếu
tích cực như thế?
Bạt-nan-đà lại tác động:
-
Tôi nói pháp khiến ông có thể xa lìa sanh, lão, bệnh, tử, ưu sầu khổ não để làm
công việc cứu độ mà xả bỏ tất cả, bản thân không mưu cầu điều gì. Ấy thế, nay
ông lại keo kiết chiếc áo này mà không chịu bố thí!
Nghe phải, ông Trưởng giả liền cởi áo cho Bạt-nan-đà...
Tưởng chẳng ai để ý đến mình, không ngờ lúc trở về đến cửa thành, người giữ cửa
hỏi Trưởng giả:
-
Lúc ra đi, ông mặc hai lớp áo rất đẹp, sao về lại bay đi đâu mất một áo? Phải
chăng, vì người đẹp mà “thương nhau cởi áo cho nhau”?
Ông
Trưởng giả nói:
-
Tôi không cho người đẹp nào cả, cũng không bị ai cướp giật, mà lại bị Sa-môn
Thích tử cưỡng bức xin cho kỳ được, tôi đành cởi cho!
Người
canh cửa nói:
-
Ông đừng nói như vậy! Tôi nghe Sa-môn Thích tử ít ham muốn, biết vừa đủ, dâng
cúng còn không nhận, huống chi lại cưỡng đoạt thì còn mặt mũi nào?
Ông
Trưởng giả kể lại sự cưỡng bức xin áo kia cho người giữ cửa nghe. Ðối với người
có lòng đố kỵ Phật pháp, nghe thế liền lớn tiếng miệt thị: “Ðây chính là loại
cướp đoạt, những ai gần gũi họ cũng sẽ bị trấn lột như thế. Ðích thị bọn Sa-môn
Thích tử, miệng thường khen việc bố thí, chê việc không cho mà lấy, nay cưỡng
đoạt lấy y vật của người, thì họ đâu có khác gì bọn cướp?”.
Ông
Trưởng giả về đến nhà cũng phân trần với người nhà lý do cho chiếc áo kia.
Sự
việc này lọt đến tai các Trưởng lão Tỳ-kheo. Các vị quở trách Bạt-nan-đà, rồi
đưa Bạt-nan-đà đến chỗ Phật, bạch lên Ngài sự vệc trên.
Ðức
Phật cho tập hợp Tăng, trước Tăng và Phật, Bạt-nan-đà thú nhận sự thật đã xảy
ra, đức Phật nghiêm khắc quở trách Bạt-nan-đà và Ngài chế giới cấm việc làm này.
Giới này được bổ sung bởi các việc xảy ra sau đây:
Lúc
bấy giờ có nhiều Tỳ-kheo mặc y xấu tệ, rách rưới, các người bà con thấy vậy hỏi:
- Tại sao
thầy lại mặc loại y vứt đi như thế này? Hãy đến con cúng cho y khác.
Các
Tỳ-kheo bảo:
- Ðức Phật không cho chúng tôi đến nam, nữ Phật tử
xin y. Nếu đem cúng cho
Tăng, rồi tôi nhận y từ Tăng thì được.
Các
người bà con nói:
-
Con chỉ muốn cúng cho thầy, chứ không muốn cúng cho Tăng, vì sợ vị khác nhận
được.
Các
Tỳ-kheo nói:
-
Nếu đức Phật cho phép chúng tôi đến nam, nữ Phật tử bà con xin y thì đâu đến nỗi
chúng tôi phải mặc y rách rưới như thế này!
Các
người bà con thưa:
-
Trong chỗ bà con với nhau thì biết lúc nào nên nhận, không nên nhận, xin thầy
bạch lên đức Phật việc này.
Ðức
Phật khi biết được việc này, Ngài kiết giới bổ sung, xem việc đến bà con thân
tộc xin y là một ngoại lệ, Tỳ-kheo được phép.
Lại
một chuyện cắc cớ khác:
Lúc
ấy, có nhiều Tỳ-kheo đi theo đoàn khách buôn để về Kỳ-hoàn song lại lạc đường,
Tỳ-kheo bị bọn cướp đoạt sạch sẽ y, bát, đành mình trần,thân trụi đến thành
Xá-vệ. Người đi đường cứ ngỡ Tỳ-kheo cải đạo, theo đạo lõa hình, vặn hỏi mới
biết sự thể nghiệt ngã như thế.
Khi đến Kỳ-hoàn, các Tỳ-kheo ở
đây sợ sứ giả cũng vặn hỏi rồi trắc nghiệm hư thật:
- Nếu các ông là Tỳ-kheo thì thọ
giới, Bố tát, Tự tứ phải như thế nào?
Sư lõa hình trả lời:
- Thọ giới như vậy... Bố tát như
vậy... Tự tứ như vậy...
Dù biết không phải sư giả, song
các Tỳ-kheo ở Kỳ-hoàn vẫn không cho y để mặc.
Không cho thì cứ để vậy, các
Tỳ-kheo gặp nạn, bình thản đến chỗ Phật. Ðức Phật quở trách:
- Tại sao các ông lõa hình đến
thăm Như Lai?! Ðến nỗi nào các ông không thể lấy lá cây hay cỏ để tạm che thân
được hay sao?
Ðức Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Từ nay lõa hình đến thăm Như
Lai là phạm tội Ðột-kiết-la.
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
- Ngài không cho phép chúng con đến nam, nữ Phật tử chẳng phải
bà con xin y. Trong khi đó, bà con của chúng con ở cách đây rất xa thì làm sao
có y để mặc trong trường hợp bị nạn cướp này?
Ðức Phật lại hỏi:
- Các thầy đã đến nơi ở của
Tỳ-kheo cựu trú chưa?
- Thưa Ngài đã đến rồi, đã bị
chất vấn, trắc nghiệm đủ điều, song dù biết rõ chúng con bị nạn, Tỳ-kheo cựu trú
vẫn không cho y để mặc.
Ðức Phật nghiêm khắc quở trách
Tỳ-kheo cựu trú và khen ngợi các Tỳ-kheo bị nạn. Ngài kiết giới bổ sung, tức là
gặp phải nạn bị cướp y, bị mất, bị cháy, bị nước cuốn trôi, bị rách thì Tỳ-kheo
có thể đến nam, nữ Phật tử xin y để mặc.
TRANH THỦ
Lúc
bấy giờ đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Vào dịp nọ, có nhiều chúng Tỳ-kheo từ ấp
Ba-lợi về thăm Phật. Trên đường đi, họ gặp bọn cướp, bị cướp hết y mang theo,
các thầy bảo nhau:
Có
5 trường hợp được Phật cho phép đến Cư sĩ hay vợ Cư sĩ không phải bà con để xin
y. Dù vậy chúng ta cũng chẳng biết ai để đến xin bây giờ!
Lục
quần Tỳ-kheo nghe được sự việc này, chớp ngay cơ hội, liền đến các Tỳ-kheo mất y
đề nghị đi xin hộ y cho, nếu còn dư thì lấy.
Các
Tỳ-kheo mất y rất hoan hỷ, tán dương:
-
Hay lắm! Tốt lắm! Thầy giúp cho.
Ðược sự đồng ý như vậy, Tỳ-kheo Lục quần đi khắp trong thành, đến Cư sĩ hay vợ
Cư sĩ trình bày: “ Có các Tỳ-kheo từ ấp Ba-lợi về hầu thăm đức Thế Tôn, không
may bị bọn cướp, cướp mất y. Quý vị có thể giảm bớt chỗ may mặc, cùng nhau đem y
đến cúng dường quý thầy”.
Nghe thế, các nam nữ Phật tử đóng góp y, kẻ ít người nhiều, được một số y khá
lớn đem đến cúng. Các Tỳ-kheo mất y, sau khi được đầy đủ y, bảo các Tỳ-kheo Lục
quần:
-
Chúng tôi đủ rồi, không phiền các thầy phải xin nữa.
Lục
quần Tỳ-kheo nói:
-
Các thầy có lý do chánh đáng để xin y, còn chúng tôi thì đâu được phép. Chúng
tôi dựa vào nhân duyên của quý thầy mới có lý do để xin. Xin được tiếp tục.
Các
Tỳ-kheo mất y nói:
-
Ðiều đó tùy ý các Trưởng lão, miễn sao đúng pháp là được.
Như
thế là Lục quần Tỳ-kheo lại đi đến các nơi để xin nữa, thu được rất nhiều y.
Nhìn thấy
các thầy cứ đi xin mãi, các Cư sĩ sinh nghi, họp lại, có ý kiến: “Số Tỳ-kheo mất
y không có bao nhiêu vị, trong thành hầu hết Phật tử đều đem cúng y, như vậy còn
thiếu chỗ nào nữa mà các thầy ấy cứ đến xin tiếp? Phải chăng mấy ông này lợi
dụng xin, tích chứa y cho nhiều để mua bán, đổi chác. Không tu phạm hạnh?
Nghe được việc làm này, các Tỳ-kheo Trưởng lão bằng nhiều cách quở trách rồi đưa
Tỳ-kheo Lục quần đến chỗ Phật, bạch lên Phật sự việc đã xảy ra.
Trước Tăng, đức Phật hỏi Lục quần Tỳ-kheo:
-
Thật sự các ông có làm như vậy không?
- Bạch
đức Thế Tôn, thật sự đúng như vậy.
Ðức
Phật bằng mọi cách quở trách Lục quần Tỳ-kheo rồi chế giới, giới hạn việc xin y.
KẺ THAM NÀY KHÔNG ÐỦ TỒN TẠI
Mối
liên hệ giữa Bạt-nan-đà và Cư sĩ xem ra rất khắn khít. Ngoài việc nói pháp ra,
Bạt-nan-đà còn lo liệu cho Cư sĩ lúc ốm đau hay khi hữu sự.
Bữa
nọ, có một Tỳ-kheo sáng sớm đắp y, bưng bát vào thành khất thực. Khi đến gia
đình thường ngày được Bạt-nan-đà lui tới, nghe chuyện vợ chồng nhà này bàn định,
họ bảo nhau: “Bạt-nan-đà là ân nhân của ta, nên sử dụng một số tiền may y như
thế cúng cho Ngài”.
Tỳ-kheo này, sau khi trở về khen Bạt-nan-đà:
-
Thầy có nhiều phước đức!
Bạt-nan-đà hỏi:
-
Phước đức gì mà có? Thử nói cho tôi biết nào?
Tỳ-kheo kia tình thật, đem điều tình cờ nghe được như trên kể lại cho Bạt-nan-đà
biết rồi bảo:
-
Nay thầy đến đó, chắc chắn sẽ nhận được y mà không gì trở ngại.
Sáng sớm hôm sau, đến giờ khất thực Bạt-nan-đà mặc y, bưng bát đến nhà Cư sĩ
thân tín kia. Thấy thầy đến, Cư sĩ vội vàng ra đón chào. Bạt-nan-đà liền hỏi:
-
Có phải Phật tử định sử dụng số tiền như thế để may y như thế phải không?
-
Bạch thầy đúng như vậy. - Cư sĩ thưa.
-
Phật tử dư biết là tôi không mặc y xấu chứ? Nếu may tốt thì tôi sẽ mặc. Phật tử
hãy nhớ cho, lúc ốm đau hay có việc chi tôi đều lo liệu giải quyết tốt cho Phật
tử. Nếu y không tốt thì tôi cho đệ tử hay đem cất mà thôi. Như vậy, vật này vất
đi. Việc cho của Phật tử chẳng có tác dụng phước đức gì!
Bất
bình trước lời nói này của thầy, Cư sĩ kia nói với người xung quanh rằng:
-
Bạt-nan-đà quá tham lam, ai cung cấp cho nổi, làm sao thỏa mãn theo ý ông ta. So
với chỗ phát tâm tôi đã dành cúng gấp 5, 6 lần rồi, ấy vậy mà vẫn không đáp ứng
lòng tham của ông ta. Trước đây tôi có lòng tốt như vậy, còn bây giờ thì tiêu
tan cả rồi! Thôi, tôi không cúng nữa!.
Các
Tỳ-kheo Trưởng lão nghe được sự việc này đã hết lời quở trách Bạt-nan-đà rồi đưa
sự việc lên trình đức Phật.
Trước Phật và Tăng, Bạt-nan-đà
thú nhận sự thật do mình đã gây ra, làm mang tiếng xấu kia. Ðức Phật quở trách
rồi kiết giới cấm vấn đề này.
Tánh nào tật nấy, Bạt-nan-đà
thường lui tới các nhà Cư sĩ để gia ân. Ân đã kết thì nghĩa phải đền, có hai gia
đình Cư sĩ nọ, vợ chồng cùng nhau bàn định: “Chúng ta mỗi gia đình cùng nên vì
thấy Bạt-nan-đà sử dụng chừng số tiền như thế để may y như thế cúng cho ngài
Bạt-nan-đà”.
Việc bàn tính này, tình cờ
Tỳ-kheo khất thực nghe được, về thông tin cho Bạt-nan-đà biết. Bạt-nan-đà liền
đến nhà hỏi 2 cặp vợ chồng kia:
- Tôi nghe quí Phật tử, mỗi vị
đều vì tôi, sử dụng số tiền tương đương như vậy để may y như vậy cúng cho tôi
phải không?
- Thưa thầy quả thật như vậy. -
Họ thưa.
Bạt-nan-đà bèn khuyên họ:
- Quý vị có thể chung tiền lại để
may một cái y cho thật tốt. Nếu thật tốt, tôi sẽ mặc bên mình để luôn nhớ đến
quý vị, bằng như không tốt, tôi xếp bỏ vào một chỗ, chẳng biết đến. Vật như thế
là vất đi, chẳng còn tác dụng phước đức gì cả!
Khi ấy, Cư sĩ và vợ Cư sĩ của hai
gia đình đùng đùng nổi giận, mắng mỏ rằng:
- Ông này tham lam quá! Làm sao
có thể cung cấp nổi, có thể làm thỏa mãn nổi?! Tuy yêu cầu chung lại may
thành một y, song so với chỗ phát tâm của
chúng ta đã gấp 5, 6 lần rồi. Ấy thế, vẫn không thỏa lòng kẻ tham. Kẻ ác
này không đủ để tồn tại. Từ nay chấm dứt
không để đến đây nữa!
Sự thật tai tiếng này được các
Tỳ-kheo Trưởng lão bạch lên Phật. Phật nặng lời quở trách Bạt-nan-đà, rồi kiết
giới cấm Tỳ-kheo hành động như vậy.
ÐỪNG LÀM KHỔ CƯ SĨ
Lúc
bấy giờ đức Phật lưu trú tại thành Vương-xá, nơi đây có một vị đại thần rất
trọng Bạt-nan-đà. Ngày ấy, vị Ðại thần này sai người hầu việc mang một số tiền
may y đến cúng cho Bạt-nan-đà. Người hầu cận đem lời vị Ðại thần thưa với
Bạt-nan-đà rằng:
-
Bạch Ngài, vị Ðại thần tên đó... có lời thăm hỏi sức khỏe Ngài, và xin cúng Ngài
một số tiền may y. Xin Ðại đức nhận cho số tiền này.
Bạt-nan-đà nói:
-
Tôi không được phép nhận số tiền may y này, nếu được tịnh y (y hợp pháp)
thì có thể nhận để mặc.
Sứ
giả hỏi:
-
Ðại đức, ngài có người chấp sự
chứ?
-
Vâng, người chấp sự của tôi hiện ở nơi kia...- Bạt-nan-đà chỉ chỗ.
Ðến
người chấp sự, cận thần sứ giả kia thưa:
-
Ðại thần..., cho tôi đem số tiền may y này đến cúng ngài Bạt-nan-đà, ông là
người chấp sự của Ðại đức Bạt-nan-đà, xin nhận giữ hộ số tiền này. Khi nào Ðại
đức đến lấy thì trao cho Ðại đức.
Người chấp sự nhận tiền, sau đó người hầu cận kia quay lại chỗ Bạt-nan-đà thưa:
-
Người chấp sự của Ngài đã nhận tiền rồi, khi nào Ðại đức cần y thì đến đó lấy.
Con xin về.
Sau một thời gian, Ðại thần lại sai người đến hỏi Bạt-nan-đà:
-
Gần đây tôi có sai người đem tiền may y đến gởi nơi người chấp sự của ngài. Ðại
đức đã sử dụng để may y mặc chưa?
Bạt-nan-đà nói:
-
Tôi chưa lấy y ở người chấp sự để sử dụng.
Sau
khi người hầu cận về cho biết như thế, Ðại thần có suy nghĩ: “Ta thực hiện đúng
cách cúng y, sao đã lâu rồi chưa thấy nhận để mặc, chắc y của ta không đáng giá
nên Bạt-nan-đà không buồn nhận mặc!”
Ðại
thần sai người hầu cận quay trở lại, nói với Bạt-nan-đà:
-
Ðại thần cúng y lâu rồi, sao không thấy Ngài mặc? Nếu không cần thì xin trả lại
cho Ðại thần.
Bạt-nan-đà đáp lời:
-
Xin lỗi vậy! Tôi rất cần y.
Sau
đó, Bạt-nan-đà vội đến chỗ người chấp sự không đúng lúc, yêu cầu:
-
Nay tôi cần y, có thể cho tôi nhận.
Người chấp sự thưa:
-
Xin ngài chờ cho, ngay lúc này tôi phải tham dự buổi họp cùng với mọi người,
không thể đến trễ, đến họp trễ sẽ bị phạt 500 tiền vàng
theo quy định.
Bạt-nan-đà nói:
-
Ðối với việc đạo pháp, ông thường vui vẻ hết lòng sốt sắng, tại sao nay lại coi
trọng việc thế tục?
Nghe lời này, lòng tự trọng như bị tổn thương, người chấp sự liền có suy nghĩ:
“Dù có bị phạt vẫn phải giao y cho xong rồi mới đến họp”.
Người chấp sự tất bật xử lý nhanh chóng cho có y để giao, song cũng mất quá
nhiều thời gian. Giao xong, đến họp, bị mọi người chất vấn ngay:
-
Tại sao đến họp trễ thế?!
Tình thật, người chấp sự nói:
-
Bạt-nan-đà đến đòi nhận y, tôi phải lo liệu giao cho xong, nên đến họp trễ như
thế này.
Mọi
người đều nói:
-
Coi trọng một Tỳ-kheo, mà xem nhẹ quy chế của nhiều người. Theo điều ước, không
thể tha thứ, phải nộp phạt vậy.
Ðương sự
nộp phạt rồi, nổi giận nói:
-
Sa-môn Thích tử tự nhận có đạo lý, làm lợi ích cho mọi người, nay ngược lại,
Sa-môn đã làm cho ta bị phạt.
Người không có lòng tin kính
Phật pháp lại đồng tình nói:
-
Ông kính tin Sa-môn để đến nỗi bị phạt nặng như vậy, nếu lại cứ gần gũi nữa sẽ
bị phạt nặng hơn nữa.
Người thành Xá-vệ hầu như nghe biết việc không mấy tốt đẹp này. Các Tỳ-kheo
Trưởng lão lại càng nắm vững vấn đề hơn, và đã nghiêm khắc quở trách Bạt-nan-đà.
Sau đó vấn đề được nêu lên giữa Phật và Tăng chúng. Bạt-nan-đà đã xác nhận sự
thật. Ðức Phật lại quở trách và Ngài kiết giới hướng dẫn cách thức đến người
chấp sự nhận y một cách cụ thể, tránh việc không hay đã xảy ra.
ÐỔI NGHỀ
Hồi ấy, chúng Tăng trong thành
Xá-vệ nhận được nhiều tơ sợi của Phật tử đem đến cúng. Các Tỳ-kheo được phân
chia tơ để tùy nghi sử dụng. Các vị thuê dệt để may y Tăng-già-lê,
Ưu-đa-la-tăng,
hay y An-đà-hội,
cũng như làm dây lưng, dây ngồi thiền, cho đến dây cột cửa mà vẫn không hết tơ.
Lục quần Tỳ-kheo sau khi thuê thợ dệt may một y vẫn còn dôi ra một số tơ, chỗ dư
này lại lỡ cỡ, dệt thêm một chiếc chiếu thì không đủ. Lục quần lại đi xin thêm
tơ. Trưởng giả, Cư sĩ hoan hỷ cho. Thấy việc xin dễ dàng mà có lợi tốt như thế
nên “Nhất dạ sanh bách kế”, Tỳ-kheo Lục quần liền có ý nghĩ chuyển đổi nghềø,
rằng: “Từ nay, ta chỉ nên làm theo nghề này”.
Lục quần ra sức đi xin thật nhiều
tơ, rồi thuê thợ dệt khắp nơi dệt cho hết số tơ quá nhiều kia. Thợ dệt khắp
thành bận hợp đồng với Lục quần, nên từ chối không nhận dệt cho khách hàng. Có
một Cư sĩ cần vải, đến khắp xưởng dệt đều không nơi nào nhận dệt, vì kẹt phải
hợp đồng với Tỳ-kheo Lục quần. Ức quá, nói cho hả dạ, người Cư sĩ kia chữi đổng:
- Sa-môn Thích tử, tự xưng là ít
ham muốn, biết lúc vừa đủ, nay lại đi khắp,
thuê tất cả thợ dệt, ham hố, bao nhiêu cũng không vừa. Lòng tham lợi của họ đâu
có khác gì với kẻ ở chợ?! Họ không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn!
Việc này, sau đó, Phật chế giới
cấm hành động phi pháp ấy trước Tăng chúng.
THÔI RỒI ÂN NHÂN!
Như
đã biết, Bạt-nan-đà có tài xử lý việc của nguời. Trong thành Xá-vệ, có một người
khách buôn, Bạt-nan-đà thường lui tới nhà ông ta để nói pháp và chữa bệnh. Ðối
với ân này, người khách buôn nói với vợ:
-
Bạt-nan-đà là ân nhân của ta, có thể dùng số tơ này thuê dệt thành y, sau khi
về, ta sẽ đem cúng cho thầy.
Người chồng lên đường buôn bán, người vợ đem tơ sợi đến xưởng dệt thuê dệt thành
y. Bà ta nói với người thợ dệt:
-
Ông tính cho đủ tơ, đừng để dư, đừng để thiếu.
Thông tin này không biết đến từ đâu, Bạt-nan-đà đến ngay nhà Phật tử khách buôn.
Người vợ ra đón chào thăm hỏi và thưa:
-
Chồng con bảo con thuê thợ dệt y để cúng cho Ðại đức, thợ dệt đang dệt, thưa
thầy.
Bạt-nan-đà hỏi:
-
Thuê dệt ở xưởng nào?
Người vợ khách buôn thưa:
-
Con thuê thợ tên đó..., ở đó...
Bạt-nan-đà đến ngay xưởng dệt này nói với người thợ:
-
Ông có biết không? Y này họ thuê dệt để cúng cho tôi. Ông dệt cho tốt, cho dài,
cho rộng. Riêng phần tôi, ít nhiều sẽ trả ơn ông.
Người thợ dệt nói:
-
Bà ấy bảo tôi tính toán vừa đủ, đâu vào đó rồi, nay làm sao có thể làm theo đề
nghị của thầy được!
Bạt-nan-đà bảo:
-
Cứ dệt cho thật đẹp như tôi yêu cầu, nếu chỉ sợi không đủ, ông đến nói với bà ta
cho tôi xin thêm sợi. Ðảm bảo bà ấy sẽ đưa cho thôi.
Người thợ dệt nghe theo, dệt hết chỉ, đến xin thêm.
Bà
vợ khách buôn nói:
-
Trước đây đã tính toán đầy đủ rồi, nay tại sao lại đến lấy thêm sợi?
Người thợ dệt trình bày lại lời dặn của Bạt-nan-đà. Nghe thế, người vợ bèn đưa
thêm chỉ.
Khi
người khách buôn trở về, hỏi vợ chuyện dệt y cúng cho thầy Bạt-nan-đà. Người vợ
liền lấy y cho chồng xem. Thấy chiếc y quá tốt về hình thức cũng như chất lượng,
người chồng hỏi:
-
Với số tơ dự trù ít, sao dệt được y dày và tốt như thế này?
Bà
vợ nói:
-
Bạt-nan-đà bảo thợ đến lấy thêm sợi, cho nên mới được như thế.
Người khách buôn nghe vậy, bực tức nặng lời:
-
Bạt-nan-đà, túi tham không đáy, không ai cung cấp, thỏa mãn nổi cho ông ta đâu!
Với y như thế này là gấp đôi số tơ ta dự định ban đầu. Tuy trước kia là ân nhân,
nhưng bây giờ thì xin tuyệt giao là vừa, thôi đừng cúng y này cho Bạt-nan-đà
nữa.
Tiếng xấu này cứ lan rộng, đến tai các Tỳ-kheo Trưởng lão rồi đến Phật đang lưu
trú tại thành Xá-vệ. Ðức Phật đã chế giới cấm hành động phi pháp này của Tỳ-kheo
coi như ngăn chận lòng tham của người xuất gia ở trong thế gian này.
THẦY TRÒ QUÁ BIẾT NHAU
Bạït-nan-đà và Ðạt-ma là hai thầy trò. Một hôm Thầy bảo trò:
-
Nay ta muốn cùng ông đi du hành đến nước Câu-tát-la,
ông có muốn cùng đi không?
Ðạt-ma thưa:
- Nước đó
lạnh, thiếu y, con không thể đi được!
Bạt-nan-đà bảo:
- Nếu ông
có thể cùng đi, thì tôi sẽ cho ông y.
Như
không tin, Ðạt-ma thưa:
-
Thầy cho y con trước rồi con mới đi.
Bạt-nan-đà lấy y đưa cho đệ tử. Ðược y của thầy cho rồi, để tử lại đổi ý không
đi cùng thầy.
Bạt-nan-đà trách:
-
Ông bảo có cho y mới đi, nay nhận được y rồi sao không chịu đi? Nếu không đi thì
trả lại y cho tôi.
Ðạt-ma phủ nhận điều kiện, thưa:
-
Thầy đã cho rồi, tại sao đòi lại y, là thế nào?
Bạt-nan-đà lập luận:
-
Chẳng phải tôi cho ông, nhưng vì tôi muốn cùng ông du hành nên mới cho. Nay ông
không đi thì không có lý do gì mà không trả lại y cho tôi.
Thế
là Bạt-nan-đà cưỡng bức lấy lại y. Ðạt-ma vừa khóc vừa lớn tiếng. Tỳ-kheo Trưởng
lão nghe, hỏi:
-
Tại sao thầy khóc?
Ðạt-ma thưa:
-
Thầy con cưỡng đoạt y của con.
Các
Tỳ-kheo trách Bạt-nan-đà rằng:
-
Tại sao gọi là Tỳ-kheo mà lại tước đoạt y của kẻ khác?
Bạt-nan-đà trình bày sự việc, rồi kết luận:
-
Ông ta nhận được y rồi, lại không cùng đi, nên tôi lấy lại, chứ không hề cưỡng
đoạt.
-
Các Tỳ-kheo nghe thế, lại khiển trách Ðạt-ma:
-
Tại sao ông dối trá với thầy ông, đòi cho y để đi, được y rồi lại không đi?!
Qua
sự việc này, trước Tăng, hai đương sự đã bị chê trách. Ðức Phật lại kiết giới và
nội dung của giới này là đã đem cho y, dù dưới hình thức nào đi nữa cũng không
được phép đòi lại. Ðức Phật chế giới này tại thành Xá-vệ.
Nhìn thấy kẽ
hở của điều luật, Tỳ-kheo Lục quần “chơi ngẳng” như vầy: Ðem y cho các Tỳ-kheo
rồi bảo Sa-di hay người giữ vườn đoạt lấy lại. Các Tỳ-kheo hỏi Tỳ-kheo Lục quần:
-
Thầy há không nghe Phật kiết giới cấm làm việc này hay sao?
Lục
quần nói:
-
Có nghe chứ! Nhưng nay tôi bảo Sa-di hay người giữ vườn đoạt lại, nên không trái
với lời Phật cấm.
Các
Tỳ-kheo hỏi Lục quần:
-
Tự mình đoạt lại, hay chỉ bảo người, xúi giục người khác đoạt lại có khác gì
đâu?!
Qua
sự việc này, giới điều được Phật nói bổ sung cụ thể hơn.
Tuy
nhiên có sự việc xảy ra không dừng ở thế, chẳng hạn như có trường hợp các
Tỳ-kheo gởi y cho Tỳ-kheo tại trú xứ rồi đi bặt, lâu lắm mới trở về. Sợ phạm
giới cấm đã nêu trên, nên không dám đòi lấy lại.
Lại
có các Tỳ-kheo trên lộ trình du hành, đem gởi y cho Tỳ-kheo ở một trú xứ nào đó.
Sau một hành trình dài trở về, sợ phạm điều cấm đã nêu, nên cũng không dám đòi
nhận lại y, hoặc đã đòi lại rồi lòng lại ray rứt phân vân: không biết làm như
thế có phạm tội xả đọa?
Những vấn
đề trên, các Tỳ-kheo bạch lên Phật, được đức Phật khen ngợi hạnh thiểu dục tri
túc và làm sáng tỏ vấn đề trên ở trong điều luật bổ sung.
PHỎNG TAY TRÊN
Lúc
bấy giờ có một số đông Cư sĩ trong thành Vương-xá muốn thỉnh Phật và Tăng chúng
để cúng dường, nhân đó được nghe pháp. Tại một địa điểm thuận lợi, họ chia nhau
công việc, người bữa củi, kẻ xách nước, người quét dọn rưới nước làm sạch sẽ
không bụi, kẻ trải toạ cụ, người rải hoa, trải phu cụ ở tòa ngồi, nhất là lực
lượng trai soạn rất đông đảo...
Buổi sáng sớm hôm đó, Bạt-nan-đà đắp y, bưng bát đến trước ngôi nhà mà mọi người
đang chuẩn bị mọi việc để cung thỉnh Phật và Tăng. Tùy theo công việc của mỗi
người mà Bạt-nan-đà khéo lời tán dương, cổ vũ. Bạt-nan-đà tán thán:
-
Việc làm của quí vị hôm nay rất tốt, là điều thiện, là niềm vui, quý vị thật
xứng đáng là người Phật tử.
Mọi
người đáp lại như để khoe khoang:
-
Chúng con thật lấy làm vui mừng với việc làm cúng dường này. Ngoài việc cúng
dường đồ ăn, thức uống, thứ nào cũng đặc sắc thơm ngon, chúng con còn cúng dường
y vật cho chúng Tăng nữa.
Bạt-nan-đà nghe thế lại bảo:
-
Các vị làm việc dư thừa, y vật chúng Tăng được nhiều người cúng dường quá thừa
thải rồi! Các vị cúng tiếp nữa thì hoá ra chất thành đống trong kho, có ai ngó
ngàng đến đâu, có quý cũng trở thành vô dụng, không còn tác dụng phước đức nữa!
Ừ nhĩ! Sao quí vị lại không cho tôi?! Nếu cho tôi, tôi thường đắp mặc bên mình,
nhìn thấy y là liền nhớ nghĩ đến quý vị, để rồi sự ốm đau, việc quan yếu lại
được cùng nhau lo liệu giải quyết.
Mọi
người nghe, thấy hữu lý quá nên họp lại lấy ý kiến, có người nói:
-
Nếu Tăng không cần thì nên cho vị này để sự cúng dường của chúng ta có tác dụng
phước đức.
Có
người lại phản đối:
-
Với bản nguyện của chúng ta là cúng cho chúng Tăng, tại sao nay lại tập trung
cúng cho một người?!
Bàn
qua tính lại, số đông cúng cho một người chiếm đa số. Toàn bộ y vật được trao
cúng cho Bạt-nan-đà.
Bấy
giờ, Bạt-nan-đà vác cả một bao nặng y vật, trở về trú xứ Tỳ-kheo, các thầy khen:
-
Thầy là người có phước đức! Xin hỏi, mới ra đi có một lát mà sao đầy thắng lợi
như thế?
Bạt-nan-đà trả lời rất thực như vầy:
-
Khéo miệng mới được, chứ chẳng phải do phước đức nào cả.
Bạt-nan-đà liền kể lại chuyện phỏng tay trên của mình rồi cười một cách đắc
chí...
Sáng ngày ấy, sau khi thiết dọn trai bàn đầy đủ đâu vào đấy. Các Cư sĩ trong ban
tổ chức cho người đến thỉnh Phật. Ðức Thế Tôn mặc y, trì bát đi giữa Tỳ-kheo
Tăng về địa điểm thiết lễ cúng dường kia... Ngài và Tăng, uy nghiêm ngồi vào
tòa. Tiếp theo là nghi thức tác bạch cúng dường và trong khi thọ thực, các Cư sĩ
đích thân hầu hạ thật chu đáo. Thọ thực rồi, chư Tăng nhận nước rửa tay và nước
uống. Ðáng ra có vật cúng dường thì cũng được dâng cúng luôn, song phần này bị
hụt hẩng... Chư Tăng, qua một số Phật tử trách hờn, nghe được lời than vãn như
vầy: “Bữa cơm cúng dường hôm nay, đâu phải chúng ta không chuẩn bị đầy đủ, tại
các người ấy không xét kỹ y vật định cúng cho Tăng, lại nhẹ dạ đem cúng riêng
cho một người nên mới xảy ra tình huống đáng hổ thẹn và thiếu phước đức này”.
Việc này, sau đóù được kiểm vấn lại, Bạt-nan-đà thú nhận tội giữa Tăng và nhận
sự quở trách của đức Phật... Ngài kiết giới cấm Tỳ-kheo tìm cách xoay xở vật
cúng cho Tăng về cho riêng mình. Giới này đức Phật nói tại thành Vương-xá.
Bấy giờ, đức Thế Tôn
lưu trú tại thành Vương-xá. Ðệ tử của Ngài là Tất-lăng-già-bà-ta hiện sống tại
núi Lăng-cầu-la. Ngày ấy, Tất-lăng-già-bà-ta làm công việc vệ sinh phòng ốc bằng
cách bay lên cao, rồi dội nước xuống để rửa sạch. Vào lúc ấy, vua Bình-sa dạo
đến núi này. Trông thấy vua đến, lập tức trở về lại mặt đất, đến trước vua,
Tất-lăng-già-bà-ta ngỏ lời chào:
-
Lành thay đại vương mới đến! Xin mời đại vương tạm ngồi vào nơi này.
Ngồi xuống chỗ ngồi rồi, vua hỏi:
-
Ngài phải tự làm lụng như vậy sao? Không có người giúp việc à?!
-
Chẳng có ai cả. - Tất-lăng-già-bà-ta đáp.
Thấy hoàn cảnh “neo đơn” như thế, nhà vua liền ra lệnh cho một vị cận thần:
-
Nên cung cấp người giúp việc cho Tỳ-kheo này.
Tất-lăng-già-bà-ta nghe thế, can rằng:
-
Ðức Phật không cho phép chúng tôi nuôi người giúp việc.
Nhà
Vua bảo:
-
Nên bạch đức Phật việc này.
Sau
khi về lại cung, nhà vua đến bạch Phật. Sau đó, nhân việc này, đức Phật tập hợp
Tỳ-kheo Tăng. Ngài khen hạnh thiểu dục tri túc, khen giới, khen người gìn giữ
giới, rồi Ngài bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay Ta cho phép các Tỳ-kheo nuôi người giữ
vườn (giúp việc)”.
Ðược đức
Thế Tôn cho phép, vua Bình-sa ra lệnh cho vị đại thần điều người đến giúp
Tỳ-kheo Tất-lăng-già-bà-ta, nhưng vì không ưa gì Phật pháp, vị đại thần không
cấp người theo lệnh vua. Bởi thế, Tất-lăng-già-bà-ta, trước sau gì cũng chỉ có
Tất-lăng-già-bà-ta. Bẳng đi một thời gian, Tất-lăng-già-bà-ta đắp y, trì bát vào
thành khất thực. Như không hẹn mà gặp, nhà vua và quần thần từ lầu cao vọng nhìn
thấy Tất-lăng-già-bà-ta... nhà vua liền sực nhớ, tự hỏi: “Không rõ trước đây ta
hứa cung cấp người giúp việc cho Tỳ-kheo Tất-lăng-già-bà-ta, việc này đã thực
hiện chưa?”. Nhà Vua liền hỏi vị đại thần lúc trước đã nhận lệnh.
Vị
đại thần tâu:
-
Chưa cấp, thưa đại vương.
Nhà
Vua lại hỏi:
-
Lệnh của ta đến nay được bao nhiêu ngày rồi?
Vị
thần ấy tâu:
-
Ðã 500 ngày, thưa đại vương.
Nhà
Vua bảo vị đại thần:
-
Tùy theo số ngày này mà cung cấp người giúp việc cho Tỳ-kheo Tất-lăng-già-bà-ta.
Vị
đại thần này rờ gáy, liền ra lệnh lấy người giúp việc từ 500 nhà, mỗi nhà một
người, đến trú xứ Tất-lăng-già-bà-ta để lau quét phòng ốc, nhà cửa, trông nom
vườn tược trú xứ và những công việc khác...
Bấy
giờ, trong thôn nọ đến ngày tiết hội, nam nữ trang sức thật xinh đẹp, thi đua
phô bày quần áo đẹp, vòng vàng rất nhiều... đến với lễ hội. Song không hoàn toàn
phải thế, có một hình ảnh ngược lại, đó là một người con gái vì nhà quá nghèo
nên tủi thân vừa đi vừa khóc. Hôm ấy, vào xóm khất thực thấy cô gái khóc,
Tất-lăng-già-bà-ta hỏi bà mẹ cô gái:
-
Con gái bà vì sao lại khóc bù lu, bù loa như thế?
-
Hôm nay, mọi người ăn mặc đẹp đẽ để dạo chơi. Nhà tôi nghèo khổ, không lấy gì
chưng diện như người ta, nên con gái tôi tủi thân khóc!
Nghe thế, nhân cạnh ấy, có con bò đang gặm cỏ, Tất-lăng-già-bà-ta bảo với bà mẹ
con gái rằng:
- Bà đến
lấy ít cọng cỏ nơi con bò đang ăn kia đem đến đây.
Tất-lăng-già-bà-ta nhận cỏ từ tay bà ta rồi kết lại và nhanh chóng biến hóa nó
thành hai tràng hoa bằng vàng, đưa cho bà mẹ, nói:
-
Trong thiên hạ có hai loại vàng tốt hơn hết, là vàng Diêm-phù-đàn
và loại vàng do Thần túc biến hóa. Bà cầm lấy hai tràng hoa này đưa cho con gái
bà mang vào đi dự hội.
Ðeo
hai tràng hoa bằng vàng, người con gái ấy vui mừng, hãnh diện, thong dong đi dạo
chơi. Mọi người trông thấy đều trầm trồ khen ngợi, rồi lòng ham muốn và đố kỵ cứ
xen lẫn nhau.
Một khi
điều kỳ lạ này diễn ra trước mắt thì người ta không bao giờ chịu để yên, nhất là
lòng ganh ghét biến họ trở thành người cộng tác đắc lực với triều đình và có
người đến tâu lên Vua Bình-sa rằng:
-
Thôn đó, gia đình đó, phát hiện được một kho báu vật. Ðứa con gái của họ mang
tràng hoa bằng loại vàng cực kỳ quý hiếm, trong thiên hạ không thể sánh kịp, hậu
cung của đại vương cũng chưa hề có được loại vàng như thế.
Ðược sự tâu báo này, nhà Vua ra lệnh điều người đàn bà ấy đến cửa vua. Vua trực
tiếp hỏi bà ta:
-
Ngươi được kho tàng báu vật ấy ở chỗ nào? Có thể chỉ chỗ ấy cho ta?
-
Tâu đại vương, thật sự tôi chẳng được kho tàng nào cả!. - Bà ta thưa.
Nhà
vua lại hỏi:
-
Vật trang sức mà con gái người mang đó là từ đâu có?
-
Thưa đại vương, do Tất-lăng-già-bà-ta kết cỏ biến hóa thành, rồi đem cho con gái
tôi mang. - Bà ta đáp.
Nghe nói thế, nhà vua hết sức kinh ngạc, lại giận dữ trước sự vô lý này, quát:
-
Tại sao cỏ lại biến hóa thành tràng hoa bằng vàng?
Nhà
vua cho rằng bà ta xúc phạm, ra lệnh quân bắt trói, hạ ngục.
Một
thời gian sau, Tất-lăng-già-bà-ta lại đến thôn ấy. Vừa gặp Tỳ-kheo, người con
gái bật khóc nức nở... và than oán:
-
Do Ðại đức cho hai tràng hoa bằng vàng mà mẹ của con bị tra khảo, ngồi tù!
-
Thôi đừng khóc nữa, ta rõ rồi. Mẹ của con rồi sẽ được thả ra mà!. -
Tất-lăng-già-bà-ta nói thế.
Tất
Lăng liền đến thẳng quan giữ ngục. Quan giữ ngục cung kính chào hỏi:
-
Ðại đức có việc gì, phải hạ cố đến đây?
-
Người giúp việc của ta bị nhốt nơi ngục tù này, nên ta mới đến đây. Nay ông có
thể thả bà ấy ra được không?. - Tất-lăng-già-bà-ta hỏi.
-
Người này được kho tàng quí báu mà không khai báo, không chỉ cho vua, nếu chỉ
cho vua thì bà ta được thả ra liền. - Quan cai ngục đáp lời.
Tất-lăng-già-bà-ta nói:
-
Ta kết cỏ làm thành, chứ chẳng phải là của kho tàng đâu!
-
Kết cỏ mà làm thành vàng là điều không thể xảy ra. - Quan cai ngục nói.
Tất-lăng-già-bà-ta liền biến chỗ ngồi của quan cai ngục thành cái giường bằng
vàng và hỏi:
- Nay ông
có nhìn thấy mình ngồi trên cái giường gì không?
Rõ
ràng là ngồi trên giường vàng và chính cái sang trọng này làm người cai ngục
thất kinh hồn vía, liền xuống giường, cúi đầu thưa:
-
Lạy ngài giải tha cho con được nhờ! Nếu nhà Vua mà biết con ngồi trên giường
vàng thì chắc chắn bị trọng tội!
Tất-lăng-già-bà-ta ra điều kiện:
-
Thả người giúp việc của ta ra, rồi ta mới giải phép cho ngươi.
Quan giữ ngục thưa:
-
Việc này không phải thuộc thẩm quyền của con!
-
Vậy thì quyền của ai? - Tất-lăng-già-bà-ta hỏi.
-
Dạ thưa, quyền của vua. - Quan giữ ngục đáp.
Tất-lăng-già-bà-ta liền giải phép xóa mất giường vàng, rồi bay đến chỗ nhà vua,
đứng trên hư không.
Khi
ấy, nhà vua từ trên lầu cao nhìn thấy, liền đảnh lễ thưa:
-
Ðại đức có việc gì cần mà đến đây?
Tất-lăng-già-bà-ta nói:
-
Người giúp việc của tôi bị ngồi tù nên tôi đến đây, xin nhà vua thả họ ra cho!
Nhà
Vua nói:
-
Người kia được kho tàng bảo vật, nếu chỉ cho tôi thì tôi mới thả họ ra.
Tất-lăng-già-bà-ta nói:
- Tôi kết cỏ làm thành, chứ
chẳng phải của báu trong kho tàng đâu!
Nhà Vua nói:
- Việc này không thể xảy ra,
không phải sự thật.
Lập tức, Tất-lăng-già-bà-ta lấy
cây gậy gõ vào trụ cột lầu, thì cả toà cao lầu biến thành lầu vàng, rồi hỏi
rằng:
- Cao lầu của vua được xây cất
bằng vật liệu gì đây?
Chứng kiến việc này, nhà vua rất
hoan hỷ, ra lệnh thả ngay người đàn bà kia.
Tất-lăng-già-bà-ta cứ như vậy
biến hiện bốn thần túc từ nơi này sang nơi khác khắp trong thiên hạ.
Một khi toàn dân đều nghe biết
sự biến hóa mầu nhiệm này, thì lòng kính tin Phật pháp đối với họ lớn lắm. Họ
mang vật thực đến cúng dường Tăng không thiếu thứ gì. Ðiều này gây ra sự khủng
hoảng thừa. Ðồ ăn, thức uống, các vật dụng cá nhân thừa thãi vất bỏ lung tung,
dẫn đến mất vệ sinh chung... Các Cư sĩ chỉ trích sự thừa thải:
- Ðây là những thứ Sa-môn Thích
tử chứa cất. Tự nói là tiết chế sự ăn uống, mà bo bo cất giữ như thế này thì tha
hồ ăn nuốt. Những người này vì cầu giải thoát, xa lìa, sanh, lão, bệnh, tử mà
nay lại cầu thức ăn mỹ vị, cao sang như thế này ư? Họ chẳng có hạnh Sa-môn, phá
pháp Sa-môn..v.v...
Chính vấn đề này dẫn đến Phật
kiết giới cấm cất giữ thức ăn một cách nghiêm nhặt đến nổi các dạng thuốc uống
để chữa bệnh, để xoa bóp, cũng quy định rõ thời gian được dùng, để quá không xả
là phạm tội.
GIẶC THÁNG TÁM
Bây giờ
là tháng tám, tháng của bọn giặc tế trời. Họ thường rình rập bắt người giết để
tế. Cho nên tháng này trở thành nổi khiếp sợ của nhân dân và các Tỳ-kheo. Không
ai là không đề phòng, cẩn thận việc đi lại, làm ăn.
Ðã
gần đến ngày tế, nhưng chưa bắt được ai, bọn giặc cùng họp lại bàn bạc như vầy:
“Ở A-lan-nhã có Tỳ-kheo, bắt họ không khó”. Thế là bọn giặc tiến đến một
A-lan-nhã nọ. Nghe được thông tin này, các Tỳ-kheo, ai nấy đều tìm cách lẫn
tránh. Kế hoạch bị thất bại, họ lại bàn với nhau: “Ta sẽ đến nơi khác, ngày tế
sắp đến rồi, không được trể nãi, biếng nhác”.
Trong bọn
có một người tu xuất, khi ấy nói với đồng bọn rằng:
- Tôi
được biết đức Phật dạy không cho phép Tỳ-kheo rời y một đêm, chúng ta phải phục
sẵn quanh đây, chắc mờ sáng họ phải quay về thôi.
Cả bọn
nói:
-
Nếu họ không về thì sẽ giết ngươi. Nếu ngươi không bị ân hận, hối tiếc, thì bọn
tao ở lại đây mai phục.
Người ấy trả lời:
-
Tốt lắm, tôi xin thế mạng.
Ðược cam kết như vậy, bọn giặc bố trí, rình rập...
Ðối
với Tỳ-kheo, lời Phật dạy luôn tuân thủ. Cho nên để khỏi phạm tội rời y ngủ thì
phải về A-lan-nhã trước lúc mặt trời ló dạng, nên gà vừa gáy sáng, các Tỳ-kheo
rời nơi ẩn náu quay về trú xứ và rơi vào ổ phục kích của bọn giặc. Bọn giặc liền
bảo:
-
Các ông tưởng bọn tôi đã đi rồi phải không?
Các
Tỳ-kheo trả lời:
-
Chúng tôi biết các ông còn ở lại, nhưng đức Phật không cho phép chúng tôi lìa y
ngủ, cho nên rơi đúng vào ý đồ của các ông.
Bọn
giặc liền bắt giết ngay, cần máu, lấây máu, cần thịt lấy thịt, bọn giặc có đủ
máu thịt để tế trời.
Các
Tỳ-kheo tránh được cuộc tàn sát này đã có suy nghĩ: “Nếu đức Thế Tôn cho phép
chúng ta, khi chưa hết các ngày của tháng tám được gởi một loại y nào nơi nhà Cư
sĩ trong phạm vi cương giới, thì đâu có gặp phải tai nạn khủng khiếp này”.
Như
vậy, giới điều rời y ngủ không phạm, được Phật chế định và sau đó được bổ sung
để trở thành hoàn chỉnh. Giới điều này được Phật chế định tại thành Xá-vệ.
CHÍN LỜI NGUYỆN CỦA BÀ TỲ-XÁ-KHƯ
Bà
Tỳ-xá-khư Lộc Tử Mẫu
là một cận sự nữ rất mực sùng mộ đức Thế Tôn. Ngày ấy, bà cho thiết lễ trai phạn
để thỉnh Phật và Tăng đang lưu trú trong thành Xá-vệ để cúng dường.
Hôm
ấy như sắp giao mùa, giông tố nổi lên rồi trút mưa xối xả, như có cánh tay lực
sĩ nào đó liên tục trút nước ầm ầm từ trên trời xuống. Khắp nơi trong thành,
nước lênh láng tưởng chừng như một bát nước đầy tràn, nhưng nước lại rút ngay
vào lòng đất như những giọt dầu thấm vào đống cát nóng. Trong tịnh xá Kỳ-hoàn,
đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
-
Xem trận mưa trong Kỳ-hoàn hôm nay thì rõ được sức mưa cả Diêm-phù-đề cũng vậy.
Các ông có thể tranh thủ đi tắm đi. Ðây là trận mưa cuối mùa, ở đâu cũng thế cả.
Các
Tỳ-kheo mình trần trùng trục ùa ra tắm mưa. Trong lúc ấy, vì trai phạn đã thiết
lễ xong, bà Tỳ-xá-khư sai nô tỳ đến Kỳ-hoàn mời. Ðến nơi, nô tỳ thấy một số đông
người đang loã hình tắm mưa, lòng ái ngại, nghĩ rằng: “Ðây là ngoại đạo chứ
không phải Tỳ-kheo!”. Cô ta thôi không vào mời, mà quay trở về báo lại cảnh mắt
thấy nơi Kỳ-hoàn. Tỳ-xá-khư có ý nghĩ: “Chắc là Tỳ-kheo tắm giữa đất trống, đứa
tớ ngu không biết cho đó là ngoại đạo”. Bà lại bảo rằng:
-
Mi đến cửa Kỳ-hoàn thưa lớn như thế này: “Thưa Ðại đức Tăng, thức ăn đã sửa soạn
xong, mời quí ngài đến thọ trai”.
Lúc
nô tỳ quay trở lại Kỳ-hoàn thì các Tỳ-kheo đã tắm xong, các vị về lại phòng
mình. Chẳng thấy có ai, muốn thưa lớn nhưng lại e ngại, nghĩ bụng: “Vừa rồi,
trong sân đầy cả ngoại đạo, bây giờ chẳng thấy người nào. Thôi, khỏi mời về
trình lại là ổn”.
Nghe nô tỳ báo như vậy, Tỳ-xá-khư nghĩ: “Chắc tắm xong, các Tỳ-kheo vào phòng
nghỉ ngơi”.
Bà
lại sai nô tỳ:
-
Mi đến một lần nữa, có thể vào trong cửa, đứng giữa sân thưa lớn lời bà đã dặn.
Ðứa
nô tỳ làm y như lời chủ dạy và đức Phật nghe rõ. Ngài bảo các Tỳ-kheo:
-
Tỳ-xá-khư mời thọ trai. Các ông nên mặc y, mang bát đến phó trai.
Các
Tỳ-kheo vâng lời, tập hợp nơi giảng đường. Nô tỳ đến trước giảng đường bạch
Phật:
-
Trai bàn đã thiết cúng xong, xin cung thỉnh quí ngài đến dự.
Ðức
Phật bảo người tớ gái:
-
Ngươi có thể về trước, chư Tăng sẽ đến sau.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn và các Tỳ-kheo, trong thoáng chốc đã biến mất khỏi giảng đường,
rồi xuất hiện tại nhà bà Tỳ-xá-khư, đâu đó ngồi vào tòa ngồi một cách thứ lớp mà
y phục không ướt. Tỳ-xá-khư chứng kiến hình ảnh này, lòng bà đầy cảm phục, thầm
nghĩ: “Ta được nhiều thiện lợi nên được cúng dường đầy đủ cho bậc Thánh sư và
các đệ tử của Thánh sư. Các Ngài đến trong mưa lớn mà không hề ướt y phục”. Bà
rất lấy làm vui mừng và toại nguyện. Bà đích thân mời Phật và Tăng dùng cơm và
hầu ăn một cách trân trọng, đúng phép. Ăn xong, bà dâng nước rồi kính cẩn chấp
tay đứng qua một bên, bạch Phật:
-
Cúi xin đức Thế Tôn cho con được phép nói lên lời ước nguyện.
Ðức
Phật bảo Tỳ-xá-khư:
-
Phật đã vĩnh viễn rời bỏ mọi ước nguyện của thế gian.
Tỳ-xá-khư lại thưa:
-
Cúi xin Ngài cho con phát những lời nguyện thanh tịnh.
Ðức
Phật dạy:
-
Rất lành thay!
Tỳ-xá-khư bạch Phật, bà trình bày lý do chư Tăng tắm lõa hình như ngoại đạo, mà
nô tỳ đã chứng kiến sáng nay, bà thưa:
-
Tại sao các Tỳ-kheo phải lõa hình tắm trước Hòa thượng, A-xà-lê?! Cho nên, cúi
xin đức Thế tôn cho phép các Tỳ-kheo sử dụng y tắm mưa.
Con nguyện trọn đời cung cấp y tắm mưa cho các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ này.
Bà
lại thưa:
-
Gần đây, con có chút việc đến nơi sông A-di-la,
thấy các Tỳ-kheo ni lõa hình tắm rửa trong dòng sông. Khi ấy, có người thấy hình
ảnh này đều chê cười rằng: “Người nữ mặc áo che thân còn coi không được, huống
là người nữ xuất gia mà lại lõa thể”. Cúi xin Phật cũng cho Tỳ-kheo ni sử dụng y
tắm. Con nguyện trọn đời cung cấp y tắm cho các Tỳ-kheo ni trong thành Xá-vệ
này.
Bà
lại thưa:
-
Thế tôn dạy có ba loại bệnh: Một loại uống thuốc hay không uống thuốc cũng chết.
Loại thứ hai uống thuốc hay không uống thuốc đều thoát khỏi bệnh. Loại thứ ba,
uống thuốc thì sống, không uống thuốc thì chết. Cúi xin Phật cho phép các
Tỳ-kheo được uống các thứ thuốc. Con cũng xin nguyện trọn đời cung cấp thuốc cho
các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ này.
Bà
lại thưa:
-
Ðức Phật dạy có ba loại bệnh: Một, tùy theo bệnh được ăn thức ăn, hay không được
ăn thức ăn, tùy theo bệnh đều chết. Loại thứ hai, tùy theo bệnh được ăn thức ăn,
hay không được ăn thức ăn, tùy theo bệnh đều sống. Loại thứ ba, tùy theo bệnh
được ăn thức ăn thì lành, không được ăn thức ăn, tùy theo bệnh chết. Cúi xin
Phật cho phép các Tỳ-kheo được ăn thức ăn tùy theo bệnh. Con nguyện xin trọn đời
cung cấp thức ăn tùy theo bệnh cho các Tỳ-kheo tại thành Xá-vệ này.
Bà
lại thưa:
-
Người nuôi bệnh, nếu phải đi khất thực thì không chu toàn việc chăm sóc người
bệnh. Cúi xin Ngài cho phép các Tỳ-kheo nuôi bệnh được ăn thức ăn để nuôi bệnh.
Con cũng nguyện trọn đời cung cấp thức ăn cho các vị nuôi người bệnh trong thành
Xá-vệ này.
Bà
lại thưa:
-
Khách Tỳ-kheo từ các nơi xa xôi đến đây quá mệt mỏi, hơn nữa không biết chỗ nào
để khất thực. Cúi xin Ngài cho phép các Tỳ-kheo nhận thức ăn từ nơi con, để
Tỳ-kheo khách dùng trong thời gian nghỉ ngơi vì mệt mỏi và chưa biết chỗ khất
thực. Con nguyện trọn đời cung cấp cho quí Tỳ-kheo khách trong thành Xá-vệ này.
Bà
lại thưa:
-
Nếu có Tỳ-kheo nào đi xa mà phải vào thôn khất thực nên không theo kịp bạn đồng
hành, hoặc gặp phải bọn giặc tháng tám, hay bị lạc đường. Con cúi xin Phật cho
phép các Tỳ-kheo đi xa nhận thức ăn đi xa của con. Con nguyện trọn đời cúng
dường lương thực đi đường xa cho các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ này.
Bà
lại thưa:
-
Con nghe đức Thế Tôn cho phép các Tỳ-kheo ở nước A-na-tần-đầu ăn cháo. Cúi xin
Ngài cho phép các Tỳ-kheo được dùng cháo nơi con cúng dường. Con cũng xin nguyện
trọn đời cúng dường cháo cho các Tỳ-kheo trong thành Xá-vệ này.
Bà
lại bạch Phật:
-
Nguyện đức Thế Tôn, trọn đời nhận y phục, ẩm thực, thuốc thang của con.
Ðức
Phật hỏi bà Tỳ-xá-khư:
-
Với hiểu biết ý nghĩa lợi lạc như thế nào mà bà phát chín lời nguyện như trên?
Tỳ-xá-khư thưa:
-
Với đất nước này, luôn luôn có các Tỳ-kheo ở khắp nơi về vấn an, thăm hỏi đức
Thế Tôn, hoặc có trường hợp Tỳ-kheo nào đó ở địa phương nào đó qua đời mà đắc
quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, con sẽ tìm hiểu, hỏi xem Tỳ-kheo
ấy đã từng về thành Xá-vệ này không? Nếu được trả lời rằng vị ấy đã từng đến
đây, thì trong con sẽ có suy nghĩ như vầy: “Vị Tỳ-kheo ấy chắc chắn đã từng nhận
nơi con, ít nhất là một món cúng dường”. Chỉ chừng ấy thôi cũng đủ để con vui
mừng với căn lành con đã gieo được đơm hoa kết trái.
Với
thiện tâm như vậy, đức Thế Tôn nói với bà Tỳ-xá-khư rằng:
-
Cho phép con thực hiện 8 lời nguyện, còn một lời nguyện sau cùng là không thể
chấp nhận được.
Liền khi
ấy, bà Tỳ-xá-khư lấy một chiếc ghế nhỏ ngồi trước đức Phật, đức Phật vì bà nói
bài kệ tùy hỷ:
Lòng vui dâng
ẩm thực
Cúng dường Phật, Thánh Tăng
Phước lập xan tham diệt
Thọ báo lại an vui
Sanh cõi trời trường thọ
Sanh cõi trần lìøa nhiễm
Pháp cúng dường, quả lớn
Ở đâu cũng mãi vui.
Tiếp theo, đức Thế tôn lại nói về các diệu pháp. Tỳ-xá-khư rất đổi vui mừng vì
các điều thiện đầy lợi lạc được tiếp thu một cách trọn vẹn.
Nội
dung 8 lời nguyện này, sau đó về lại Kỳ-hoàn, đức Phật đã chế thành giới điều,
quy định một cách chặt chẽ.
HỨA CUỘI
Thành Xá-vệ có một thôn nhà buôn. Lục quần Tỳ-kheo một bữa nọ đến thôn này.
Khách buôn thưa:
-
Xin Trưởng lão an cư ở nơi đây, sau chuyến buôn, chúng tôi sẽ về cúng dường phẩm
vật an cư.
Lục
quần Tỳ-kheo nói:
- Muốn
chúng tôi ở lại đây an cư thì phải cúng cho chúng tôi, trong thời gian an cư
chúng tôi may y, an cư xong chúng tôi mặc y này đến thăm viếng đức Thế tôn.
Khách buôn cùng nhau bàn tính:
- Chúng ta nên cúng trước vật
phẩm an cư để các Tỳ-kheo ở lại, như vậy là gia đình chúng ta lớn, nhỏ đều được
nghe pháp, thọ 8 phần giới, giữ gìn trong sạch thân, khẩu, ý.
Khi nhận được phẩm vật an cư
rồi, và sau khi các nhà buôn lên đường thì Lục quần Tỳ-kheo cũng ra đi nơi khác.
Một thời gian sau, các nhà buôn thu được lợi nhuận trở về, nghĩ về các Tỳ-kheo,
nên hăm hở nói với người trong nhà rằng:
- Tuy trước đây, ta đã cúng phẩm
vật an cư cho các Tỳ-kheo rồi, nay ta buôn có lãi, an ổn trở về, nên phải cúng
dường thêm, các người cứ an tâm nghe pháp.
Người nhà trả lời:
- Các Tỳ-kheo họ ra đi ngay sau
khi nhận phẩm vật.
Các nhà buôn bất mãn không nói
ra, song để sự cúng dường được mãn nguyện, họ đi ngay đến một trú xứ Tỳ-kheo gần
đó mời các Tỳ-kheo khác. Các Tỳ-kheo ấy nói:
- Các vị nên cúng dường cho các
Tỳ-kheo đã thỉnh trước đây, chúng tôi không được phép nhận phẩm vật cúng dường
của các vị ấy.
Nghe thế, sẵn lòng bất mãn, các
nhà buôn nổi giận mắng:
- Bổn ý cúng dường là giữ Lục
quần ở lại thôn an cư để họ hàng chúng tôi nhờ, chứ ngờ đâu họ lại ăn cuội, hứa
cuội như thế! Họ cùng với kẻ trộm đâu có khác gì?!
Các Trưởng lão nghe được bằng
mọi cách quở trách rồi bạch lên Phật. Ðức Phật dùng nhiều nhân duyên quở trách,
sau đó bảo các Tỳ-kheo: “ Từ nay không được phép nhận phẩm vật trong khi an cư,
nếu nhận phạm Ðột-kiết-la”.
Bấy giờ, nơi biên giới có giặc,
Vua Ba-tư-nặc sai Ất-sư-đạt-đa và Phú-lan-na cầm quân ra biên ải dẹp giặc. Hai
vị cùng nhau bàn bạc: “Nay chúng ta lên đường hành quân sống chết không thể
lường được, chúng ta nên đem phẩm vật cúng dường Tỳ-kheo”.
Hai vị liền thực hiện việc này.
Trước các Tỳ-kheo hai vị thưa:
- Nay chúng tôi đi dẹp giặc, sợ
không về được, xin được cúng dường vật phẩm này, mong quí thầy nhận cho.
Trước sự cúng dường đột xuất
này, các Tỳ-kheo rất phân vân vì sự việc trước đây đã dẫn đến Phật cấm: “Trong
lúc an cư không được nhận phẩm vật an cư”. Chẳng biết giải quyết sao, các
Tỳ-kheo trình việc này lên Phật.
Xét việc cúng này còn cách ngày
Tự tứ là 10 ngày, nên Ngài cho phép các Tỳ-kheo, tiền an cư hay hậu an cư
được thọ y cấp thí
.
CŨNG TẠI TỲ-KHEO
Biết là không phải lúc, nhưng Bạt-nan-đà vẫn đến một nhà buôn để xin bát.
Bạt-nan-đà ngõ lời:
-
Nay tôi cần bình bát, xin được cúng cho bát này.
Nhà
buôn nói:
-
Ðại đức! Xin đợi cho một thời gian ngắn. Hiện các nhà buôn có phiên họp, nếu ai
không đến họp đúng giờ phải bị phạt 500 tiền vàng.
Bạt-nan-đà nói:
- Tôi được nghe người rất
tinh tấn trong việc cung cấp phương tiện hành đạo, tại sao nay bỏ việc làm công
đức này, lại ưu tiên coi trọng việc đời!?
- Nghe lời như
vậy, người nhà buôn như được đánh thức, nghĩ ngợi: “Thôi, dù có bị phạt, việc
quan trọng này ta cũng phải thực hiện trước”.
Người nhà buôn liền đi mua bát
cúng cho Bạt-nan-đà rồi mới đến họp. Việc đi mua bát về cúng đã chiếm mất thì
giờ, nên đến họp trễ theo điều ước. Các nhà buôn bảo:
- Ðến họp trễ giờ, phải nộp phạt
thôi!
Người nhà buôn phân trần:
- Tôi không phải vì việc riêng mà
vi phạm quy chế chung! Có một Sa-môn đến tôi xin bình bát, không thể không cho,
tôi phải tìm mua bát cúng, nên đến họp trể, xin mọi người thông cảm cho!
Người không ưa gì Sa-môn, không
ưa gì Phật pháp liền phát biểu:
- Vì một Sa-môn mà ông phạm qui
chế chung của chúng ta, phải phạt thật nặng là thích đáng.
Họ buộc nhà buôn kia phải thi
hành nộp phạt, không chút thông cảm.
Bị phạt quá nặng, người nhà buôn
bực tức, đổi ân thành oán, nói lớn:
- Sa-môn Thích tử chẳng biết điều
chút nào, bảo chờ cho cũng không chịu, để đến nỗi tôi phải bị phạt nặng như thế
này!
Nghe thế, hạng người không có cảm
tình với đạo, liền hùa theo mắng:
- Bọn Sa-môn Thích tử này mở
miệng ra xem như biết điều lắm, nào là thiểu dục, tri túc, mà nay đợi lúc người
ta kẹt việc, lại cưỡng chế xin cho được cái này, cái nọ, họ không có hạnh
Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Do tánh tham đi
xin như vậy, Bạt-nan-đà nhận được nhiều bát, mỗi cái dùng 5, 6 ngày là thải ra,
xếp xó. Bát cũ để trong phòng, chỗ nào cũng ngổn ngang. Các Trưởng giả thấy vậy,
hỏi “Bát của ai lại chất đống ở đây?”.
Có ai đó trả lời: “Còn của ai nữa, của Bạt-nan-đà đấy”.
Các Trưởng giả phê phán:
- Sa-môn Thích tử thường nói
thiểu dục, tri túc mà nay chẳng biết chán ngán là gì! Thu góp chất chứa như người buôn bát. Họ chẳng có hạnh Sa-môn, phá
pháp Sa-môn.
Lời chỉ trích này đến tai các
Trưởng lão Tỳ-kheo... Trước Tăng, Phật quở trách Bạt-nan-đà và kiết giới cấm
Tỳ-kheo giữ hơn một bát qua một đêm.
Bấy giờ, có một Tỳ-kheo độc cư,
nhận được hai cái bát. Sợ phạm lời Phật dạy, đem một bát cho Tỳ-kheo khác. Sau
khi cho, chiếc bát giữ lại bị bễ, do đó, không có bát để du hành.
Việc này, sau đó được bạch lên
Phật. Và do Tỳ-kheo đương sự cho biết: 10 ngày sau khi cho bát, bát mới bễ. Do
vậy điều giới được bổ sung, Phật cho phép giữ thêm một bát trong vòng 10 ngày.
Quá thời gian đó phải xả.
Giới này Phật chế tại thành
Xá-vệ.
TƠ TẰM
ƠI! SAO KHỔ THẾ!
Bấy
giờ, đức Phật đang lưu trú tại ấp A-trà-bệ,
lúc ấy, các Tỳ-kheo làm ngoạ cụ bằng kiều-xa-da (tơ tằm). Có Tỳ-kheo đích thân
làm nhiều công đoạn... Tự mình gánh kén, cũng khiến người khác gánh kén, đích
thân nấu kén cũng sai bảo người khác nấu... Các Cư sĩ thấy thế, nói:
-
Chúng ta ươm kén, kéo tơ, Tỳ-kheo cũng ươm kén, kéo tơ. Sa-môn Thích tử với
chúng ta có khác chi đâu nào?! Họ không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Lại
có một Tỳ-kheo tự mình quay tơ, rồi nhờ Tỳ-kheo khác may ngọa cụ. Vì thiếu tơ
nên Tỳ-kheo đến nhà người sản xuất tơ, nói:
-
Tôi đang may cái ngọa cụ mà thiếu tơ, ít nhiều có thể cho tôi xin được chứ?
Người ấy nói:
-
Tôi chưa ươm thành tơ.
Tỳ-kheo lại nói:
-
Có thể vì tôi mà ươm cho vậy!
Người ấy nghe thế liền nấu kén trước mặt Tỳ-kheo. Tiếng nhọng khua động trong
kén, làm kén trồi lên mặt nước đang nóng dần. Tỳ-kheo thấy thế, bảo người kia
nhận nó xuống nước sôi. Người ươm tơ tỏ vẻ bực mình, liền mắng:
-
Thầy thường nói không sát sanh, mà nay lại bảo người sát sanh, không có hạnh
Sa-môn, phá pháp Sa-môn...
Ðức
Phật cấm Tỳ-kheo không sử dụng tơ tằm để may ngọa cụ là vậy.
CỦA QUÝ, LÔNG DÊ ÐEN
Bạt-kỳ là một xứ thuộc thành
Câu-xá-di. Xứ này nổi tiếng là nơi ăn chơi của các nhà hào tộc. Các Bạt-kỳ tử
dùng lông dê đen tuyền làm đồ phục sức, hay làm dụng cụ nằm, ngồi. Họ coi đây là
đặc điểm tài tử, giàu sang phú quý của họ, là sức hấp dẫn mọi thú vui của riêng
họ.
Khốn nỗi! Các Tỳ-kheo Bạt-kỳ
cũng bắt chước làm như vậy. Ngày nọ, bất chợt các Cư sĩ vào phòng Tỳ-kheo thăm
thú, thấy y áo lông dê đen treo lủng lẳng, liền tưởng các hào tộc Bạt-kỳ tập
trung lại để vui chơi. Nhân có người đi qua, các Cư sĩ hỏi:
- Ðây là phục sức của quý nhơn
nào?
Người ấy trả lời:
- Không phải đồ dùng của quý
nhơn mà là kiểu học đòi của Tỳ-kheo Bạt-kỳ đó thôi!
Nghe thế, các Cư sĩ cơ hiềm, chê
trách rằng:
- Các Tỳ-kheo mà lại ăn mặc như
nhà vua, như đại thần, như hào tộc khi họ cần chưng diện lên xe, xuống ngựa sao?
Tôi nghe Tỳ-kheo mặc y cắt rọc, cạo đầu vô vi, mà nay lại lo chăm chuốc theo
kiểu sang trọng này ư?! Họ không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn...
Do đó, đức Phật cấm làm ngọa cụ
bằng lông dê đen tuyền26,
song các Tỳ-kheo Bạt-kỳ chơi ngẳng, làm ngọa cụ bằng thứ lông dê pha trộn gồm
đen, trắng và loại lông dê xấu, trong đó lông đen nhiều hơn. Nhân việc này đức
Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Từ nay cho phép các Tỳ-kheo
làm ngoạ cụ với hai phần lông dê toàn đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư
màu hạ27
(xám). Nếu làm quá thì phạm Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề.
TỰ ÐEO CÁI KHỔ
Chưa hết, Tỳ-kheo Bạt-kỳ có suy nghĩ như vầy: “Ðức Phật đã cho phép chúng ta
dùng hai phần lông dê đen, phần thứ ba lông màu trắng, phần thứ tư màu xám để
làm ngọa cụ, như vậy là có thể vận dụng sự cho phép này”. Thế là Tỳ-kheo Bạt-kỳ
tìm xin được nhiều ba loại lông dê ấy, rồi đích thân làm ngọa cụ, hay nhờ vã
người khác làm. Bởi thế, trong trú xứ không chỗ nào là không có việc làm này.
Các Cư sĩ đến thăm chơi, thấy ngổn ngang các thứ nguyên vật liệu, lại một phen
chê trách gay gắt, không kém phần độc ác.
Việc này dẫn đến Phật chế giới quy định thời gian Tỳ-kheo sử dụng một ngọa cụ
mới là sáu năm. Tuy nhiên, nếu cần có sự thay đổi nào đó thì phải đến giữa Tăng
trình bày lý do để xin.
LẠI CHUYỆN LÔNG DÊ
Lông dê hình như có chỗ đặc dụng lúc bấy giờ, cho nên các Tỳ-kheo tìm được nhiều
lông dê đành phải tự gánh hay vác về trú xứ, dù đường có xa mấy. Người đi đường
thấy thế, bỉu môi cơ hiềm:
-
Chúng ta vì gia đình, vì miếng cơm manh áo nên phải còng lưng gánh lông dê, các
Tỳ-kheo cũng làm như vậy, hóa ra hạng người mặc y hoại sắc cắt rọc, cạo đầu,
khất thực với ta đâu có khác gì? Họ không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Có
một Tỳ-kheo ở trên núi, ham lông dê nên thường gánh lông dê đi đường. Hôm đó,
gánh nặng quá, mệt lã người, khi về đến trước sân Tăng phường thì liền xỉu té
xuống đất.
Các
Tỳ-kheo thấy thế, tưởng là ma quỉ nhập vào, liền lấy nước tiểu xối lên mặt.
Tỳ-kheo kia hỏi:
-
Tại sao các Trưởng lão lại dội nước tiểu lên mặt tôi?
Trưởng lão đáp:
-
Tôi sợ ma quỷ nhập vào thầy nên mới xối nước ấy chứ!
Vị
Tỳ-kheo lại phân bua:
-
Ðâu phải ma quỷ nhập, tại tôi gánh rất nhiều lông dê, nặng quá đâm ra mệt lả
ngất xỉu thôi!
Các
Trưởng lão nói:
-
Ðức Phật chế: “Tỳ-kheo chỉ thọ trì 3 y và bình bát giống như đôi cánh chim, nhờ
thế mới bay được”. Thầy không biết hay sao, mà lại gánh chi những thứ này?!
Vào
một dịp khác, vì Tỳ-kheo, Cư sĩ làm một cái phòng với tâm niệm: “Tỳ-kheo nào đến
ở phòng này thì ta cúng dường và cung cấp y”.
Sau
đó, có một Tỳ-kheo đến ở, Cư sĩ bèn cúng lông dê. Tỳ-kheo không nhận, Cư sĩ nói:
-
Con để dồn lông dê với bổn ý là cúng cho Tỳ-kheo, chứ không vì nhu cầu bản thân.
Tỳ-kheo nói:
-
Ðức Phật cấm không cho gánh lông dê đi đường thì nhận để làm chi?!
Việc này dẫn đến Phật cho phép mang vác lông dê, nhưng đi với khoảng cách không
quá 3 do-tuần.
3 Ba-la-nại: Skt. Bªnaras,
Pali. BªrªnïasÌ,
một trong 6 thành lớn thời đứcPhật.
4 Kỳ-hoàn: Xem cht. 3, tr. 48.
5 Ba-xà-ba-đề: Pali. PajªpatÌ,
di mẫu của Thế Tôn, phu nhân Ma-ha Ba-xà-ba-đề.
6 Vườn An-đà: Skt=Pali.
Andhavana, còn gọi là rừng An-đà, An-hoà. Khu rừng này gần tinh xá Kỳ-viên
trong nước Xá-vệ. Thập tụng 1: Rừng An-hoàn. Cf. Tạp A-hàm 54, T.2, Trung
A-hàm 2, T.1: rừng An-đà. Thiện kiến 14: rừng An-đà-ca.
7 Năm y của Tỳ-kheo-ni: Ngoài
3 y như Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni còn có thêm hai loại y: 1.Câu-tô-la
(quyết-tu-la, Skt. kusñlaka)
là cái váy phụ nữ mặc lót phòng kinh nguyệt; 2.Tăng-kỳ-chi (Skt.samïkaksïikª),tức
cái yếm để nịt vú.
8 Ba-dật-đề: Skt. pªyattika,
Pali. pªcittiya,
pªcittika.
Căn bản Tát-bà-đa bộ luật nhiếp 8, tr. 272c16, T24n1458: Ba-dật-để-ca nghĩa
là bị thiêu đốt, đọa vào đường ác. Căn bản Nhất-thiết-hữu bộ Tỳ-nại-da25,
tr. 762c44, T23n1442: Ba-dật-để-ca nghĩa là đọa lạc nơi thiêu đốt nung nấu.
Người phạm tội này bị đọa nơi địa ngục, bàng sanh, ngạ quỉ, chịu các khổ
nung nấu trong đường dữ. Tội này nếu không khẩn thiết ăn năn sám hối thì có
thể bị trở ngại đối với pháp lành. Ðủ các nghĩa trên gọi là Ba-dật-để-ca.
9 Ni-tát-kỳ
ba-dật-đề: Skt. naihsargika-prªyasùcittika,
Pali. nissaggiya-pªcittiya,
dịch là “xả đọa”, nghĩa là tài vật nào, Tỳ-kheo nhận phi pháp, thì phải đem
vật ấy ra giữa chúng Tăng, để tác pháp xả bỏ và đối trước một vị
Tỳ-kheo sám hối về tội nhiễm tâm sa đọa vào những tài vật ấy.
10 Ðột-kiết-la: Xem cht. 22,
tr. 23.
11 Hầu hết, Hán dịch y (Pali.
cÌvara), cần được
hiểu là vải để may y, chứ không phải áo mặc theo nghĩa đen của từ Hán.
12 Người chấp sự: Thập tụng 7,
tr. 46c17, T23n1434, Tịnh nhơn. Tịnh nhơn: Còn gọi là đạo nhơn, khổ hạnh,
quan tự, chấp sự. Người này không phải Sa-di, hay Tỳ-kheo mà là cư sĩ thọ 5
giới hay 8 giới, sống trong Già lam, giúp đỡ các Tỳ-kheo những việc lao tác,
quét dọn, cơm nước... ta cũng thường gọi là người công quả chùa.
13 Thiện kiến 15,
tr. 775b23, T24n1462: Phạt 50 Ka-lê-sa-bàn (Pali. Kahªpanïa).
Ka-lê-sa-bàn là một loại tiền xưa ở Ấn Ðộ.
14 Tăng-già-lê: Skt. saÃghªti,
tức là Ðại y, Tạp toái y, Cao thắng y...., loại y có hai lớp, y trùm kín
thân thể.
15 Ưu-đa-la-tăng:
Skt. uttarªsaÃgha,
Uất-đa-la-tăng, y khoác vai, y thượng.
16 An-đà-hội: Skt. antarvªsa,
y trong hay y dưới.
17 Câu-tát-la: Skt. Kosùalª,
Pali. Kosalª, hoặc
Kiều-tát-la, là vương quốc có thế lực nhất tại Bắc Ấn Ðộ, kinh đô là Xá-vệ.
18 Xả đoạ: Xem cht. 9, tr.
126.
19 Vàng Diêm-phù-đàn: Skt.
jambñnadasuvarnïa,
Diêm-phù là tên cây, Ðàn(nada) tên con sông. Dưới cây Diêm-phù là con sông,
cát trong sông này toàn là vàng, chất vàng có màu đỏ, vàng, tím....nên loại
vàng này rất quí.
20 Tỳ-xá-khư Lộc Tử Mẫu: Pali.
Visªkhª
Migªramªtª,
bà sinh vào tháng hai, sao Tỳ-xá-khư mọc. Và có người con tên Lộc nên gọi
Lộc tử mẫu. Bà là nữ thành tín bố thí đệ nhất. Thiện kiến 14, tr. 770c25,
T24n1462: Tỳ-xá-khư Mẫu có 10 trai, 10 gái, cả con cháu là 420 người. Người
trong nước bình luận rằng bà ấy tốt; cho nên khi có việc cưới hỏi họ đều mời
bà.
21 Y tắm mưa: Hán, Vũ dục y,
Pali. VassikasªtïikacÌvara,
khăn quấn để tắm khi trời mưa. Khác với udakasªtïikª,
dục y, khăn tắm để Tỳ-kheo ni quấn người khi tắm sông (cht. Tứ phần).
22 Sông A-di-la: Pali.
AciravatÌ. Tứ phần
10: Sông A-di-la-bạt-đề. Dịch là sông Hữu-kim(có vàng). Vị trí hiện nay là
sông Gandak (Can-đạt-khắc).
23 Có hai hạn kỳ của sự an cư
mùa mưa, gọi là tiền an cư và hậu an cư (Tứ phần 37, T22n1428, tr.832a26).
Cụ thể kết an cư vào ngày mồng 1 trăng tròn tháng 4 A-sa-đà, tức tương đương
ngày 16 tháng 4 hay tháng 5 tuỳ theo cách tính tháng giữa lịch Ấn Ðộ và
Trung Quốc. Theo thông lệ ở nước ta (Việt Nam), ngày kết tiền an cư là vào
ngày 16 tháng 4 AÂm lịch, và từ ngày 17 đến hết ngày 16 tháng 5 là thời kỳ
hậu an cư.
24 Cấp thí y: Pali. AccekacÌvara,
là y được cúng trong lúc khẩn cấp.
25 Ấp A-trà-bệ: Xem cht. 4, tr
53.
26 Lông dê đen tuyền: Pali.
suddhakªlïakªnamï
elïakalomªnamï,
lông dê thuần đen; elïaka, một loại sơn dương (cht. Tứ phần).
27 Hạ: Chỉ lông đầu, lông
bụng, lông gót chân. Pali: gocariyªnam,
phần thứ tư màu nâu đỏ.
28 Do-tuần: Skt=Pali. yojana,
âm khác: do-diên, dũ-thiện-na. có nhiều cách tính, hoặc bằng 4 câu-lô-xá
hoặc bằng 8. Huyền Trang, Tây vực ký 2:“Du-thiện-na, đoạn đường 1 ngày hành
quân của Thánh vương xưa khoảng 40 dặm. Theo tục Ấn Ðộ, 30 dặm. 1 câu-lô-xá
gần bằng 1 dặm Anh (Yết-ma yếu chỉ ‘Karmavacanàbindusªra’).
--- o0o ---
Mục
Lục |
01
|
02
| 03
| 04
|05
|06
| 07|
08
|
09
| 10
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật ngày 01-04 -2003